- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thuỳ T- Ngô Tuấn A-Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2026/HNGĐ-ST. Ngày: 04/02/2026 V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG NAI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Phi Công;
2. Bà Nguyễn Thị Thu.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Quân – Thư ký viên.
Đại diện VKSND khu vực 6 – Đồng Nai: không tham dự.
Ngày 04/02/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 253/2025/TLST–HNGĐ ngày 27/11/2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2026/QĐXXST-DS ngày 06/01/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2026/QĐST – HNGĐ ngày 23/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T - Sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: 1, ấp E, xã X, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Ngô Tuấn A - Sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: 1, ấp E, xã X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2025 và các bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:
Vào năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, bà và ông Ngô Tuấn A tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, tỉnh Đồng Nai).
Cuộc sống ngột ngạt, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong việc xây dựng gia đình và nuôi dạy con cái. Trong quá trình mâu thuẫn bà T đã cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng không có kết quả. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm không thể hàn gắn, bà T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Ngô Tuấn A.
Vợ chồng có 03 con chung: cháu Ngô Anh T1, sinh ngày 20/10/2017; cháu Ngô Anh T2, sinh ngày 27/8/2019 và cháu Ngô Hoàng A1, sinh ngày 25/6/2023; Khi ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 03 con chung, không yêu cầu ông Ngô Tuấn A cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung theo bà T là không có.
* Bị đơn là ông Ngô Tuấn A được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn và con chung với ông Ngô Tuấn A, cư trú tại tổ A, ấp E, xã X, tỉnh Đồng Nai. Như vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Nai theo Điều 35 BLTTDS.
Về tư cách tham gia tố tụng: Bà Trần Thị T là nguyên đơn, ông Ngô Tuấn A là bị đơn.
Về thủ tục tố tụng: Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Tuấn A được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điều 227, 228 BLTTDS để tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Tuấn A là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Tuấn A tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã X, tỉnh Đồng Nai) vào năm 2017. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T nhận thấy:
Bà T có nguyện vọng xin ly hôn với ông Ngô Tuấn A nhưng ông không hợp tác, không có lời khai. Theo bà T thì nguyên nhân mâu thuẫn của hai vợ chồng là do không hợp nhau trong cách sống và nuôi dạy con cái, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không còn tình cảm dành cho nhau. Tuy ông Tuấn A không có lời trình bày nhưng theo bà Lô Thị X và bà Nguyễn Thị D thì “thường nghe ông Tuấn A và bà T cãi nhau về vấn đề kinh tế và nghe bà Trần Thị L (mẹ ông Tuấn A) tâm sự ông Tuấn A và bà T không còn tình cảm, do ông Tuấn A theo đạo Thiên chúa nên không thể thuận tình ly hôn”. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà là có thật. Từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử, ông Tuấn A đều nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, ông biết rõ việc bà T làm đơn ly hôn ông nhưng ông không hợp tác, không đến Tòa án làm việc, chứng tỏ ông cũng không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Do đó, cần cho bà Trần Thị T được ly hôn với ông Ngô Tuấn A là phù hợp.
Về con chung: Bà T có nguyện vọng nuôi cả 03 con chung là cháu Ngô Anh T1, sinh ngày 20/10/2017; cháu Ngô Anh T2, sinh ngày 27/8/2019 và cháu Ngô Hoàng A1, sinh ngày 25/6/2023. Ông Tuấn A không có lời khai nên tiếp tục giao cả 03 cháu cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu nên tạm thời ông Tuấn A không phải cấp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: theo bà T là không có và cũng không có ai yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 theo biên lai thu tiền số 0007832 ngày 13/11/2025 thành án phí. Bà T đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật TTDS;
Căn cứ điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị T được ly hôn ông Ngô Tuấn A.
2. Về con chung: Giao cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là cháu Ngô Anh T1, sinh ngày 20/10/2017; cháu Ngô Anh T2, sinh ngày 27/8/2019 và cháu Ngô Hoàng A1, sinh ngày 25/6/2023.
Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tạm thời ông Tuấn A không phải cấp dưỡng nuôi con. Khi cần thiết, bà T và ông Tuấn A được quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: theo bà T là không có và cũng không có ai yêu cầu giải quyết nên không xét.
4. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà T nộp tại Phòng thi hành án khu vực 6 theo biên lai thu tiền số 0007832 ngày 13/11/2025 thành án phí. Bà T đã nộp đủ án phí.
Báo cho bà T, ông Tuấn A biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND KV6 – Đồng Nai; - Phòng thi hành án khu vực 6; - UBND xã Xuân Bắc; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tùng |