vanban.org

Bản án 15/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị L được ly hôn anh Võ Tấn T.

Về con chung: Giao con chung tên Võ Thành Đ, sinh ngày 12/12/2017 cho anh Võ Tấn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Võ Thành P, sinh ngày 20/10/2025 cho chị Đỗ Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đỗ Thị L và anh Võ Tấn T không ai phải cấp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị L được ly hôn anh Võ Tấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2026/HNGĐ-ST
Ngày 27/5/2026
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Ngọc Minh

2. Ông Huỳnh Kim An

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huệ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân khu vực 5 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thy – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn H, xã X, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Anh Võ Tấn T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

Chị Đỗ Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Võ Tấn T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 12 năm 2025, các tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn là chị Đỗ Thị L trình bày:

Chị và anh Võ Tấn T tự nguyện chung sống với nhau, đến ngày 22/02/2021 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là xã X, tỉnh Đắk Lắk). Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, nên thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung; mặc dù chị đã cố gắng hàn gắng tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn anh Võ Tấn T.

Về con chung: Chị và anh Võ Tấn T có 02 con chung tên Võ Thành Đ, sinh ngày 12/12/2017 và Võ Thành P, sinh ngày 20/10/2025. Hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, anh Võ Tấn T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P; giao cháu Đ cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

2. Bị đơn anh Võ Tấn T không có văn bản trình bày ý kiến.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 68, 203, khoản 4 Điều 147, 208, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4, 7, 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị L.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị L được ly hôn với anh Võ Tấn T.

- Về con chung: Giao con chung Võ Thành P, sinh ngày 20/10/2025 cho chị Đỗ Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Võ Thành Đ, sinh ngày 12/12/2017 cho anh Võ Tấn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.

- Về án phí: Chị Đỗ Thị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn là anh Võ Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị L và anh Võ Tấn T tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là xã X, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 22/02/2021 nên hôn nhân của chị L và anh T là hợp pháp. Theo chị L trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, nên thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung; mặc dù chị đã cố gắng hàn gắng tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không khắc phục được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn anh Võ Tấn T. Về phía anh T, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh T không có văn bản trả lời và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị L. Điều này chứng tỏ anh T không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa anh và chị L. Mặc khác, năm 2025 chị L đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh T, Tòa án đã hòa giải và chị T rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị L về việc yêu cầu ly hôn anh Võ Tấn T.

Về con chung: Chị Đỗ Thị L và anh Võ Tấn T có 02 con chung tên Võ Thành Đ, sinh ngày 12/12/2017 và Võ Thành P, sinh ngày 20/10/2025. Hiện nay chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Thành P, anh Võ Tấn T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, giao Đ cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Võ Thành Đ có nguyện vọng được ở với ba và hiện nay do anh T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu P mới hơn 09 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của mẹ và đang được chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, giao con chung Võ Thành Đ cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung Võ Thành P cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Thị L trình bày không có; anh Võ Tấn T không trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.

Về án phí: Chị Đỗ Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 235, 266, 271, 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị L được ly hôn anh Võ Tấn T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Võ Thành Đ, sinh ngày 12/12/2017 cho anh Võ Tấn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Võ Thành P, sinh ngày 20/10/2025 cho chị Đỗ Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đỗ Thị L và anh Võ Tấn T không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Thị L trình bày không có, anh Võ Tấn T không trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000598 ngày 09/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ