- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th - Bùi Văn Nh"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Th.
- Căn cứ chính? Luật Hôn và nhân gia đình; luật Tố tụng; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2026/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 4 năm 2026 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Quang Dự
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Trung Tính và Ông: Quách Ngọc Ánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 163/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025, về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/3/2026; giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh ngày 30/9/1986 - Vắng mặt
Căn cước số: xxxxxxxxxxxx
Nơi cư trú: Xóm Suối Ng, phường Kỳ S, tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Bùi Văn Nh, sinh ngày 03/6/1984 - Vắng mặt
Căn cước số: xxxxxxxxxxxx
Nơi cư trú: Xóm Láu R, xã Nật S, tỉnh Phú Thọ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/9/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày và yêu cầu như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Bùi Văn Nh tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 26/12/2022 tại UBND xã Bình S, huyện Kim B, tỉnh Hòa Bình (cũ), trong thời gian chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh Nh thường không về nhà, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chúng tôi sống ly thân từ tháng 9/2023, đến nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa. Tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Bùi Văn Nh;
- Về con chung: Không có;
- Tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với anh Bùi Văn Nh:
- Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh Bùi Văn Nh hợp lệ, nhưng anh không có ý kiến gì về việc chị Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh; ý kiến về con chung; ý kiến về tài sản chung, công nợ chung.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Th giữ nguyên các yêu cầu, không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.
Anh Bùi Văn Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý, đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã đảm bảo được thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71; đối với bị đơn không tuân theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/216 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th. Xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Bùi Văn Nh; Về con chung: Không có nên không đề cập; Về tài sản, công nợ chung: Không có nên không đề cập; Về án phí chị Bùi Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. HĐXX nhận định như sau:
Căn cứ áp dụng luật Tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, bị đơn là anh Bùi Văn Nh hiện đang cư trú tại xã Nật S, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 13, tỉnh Phú Thọ, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn do có đơn xin vắng mặt; bị đơn, anh Bùi Văn Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 vắng mặt không có lý do. HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ áp dụng luật nội dung: Quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn hợp pháp, nên áp dụng Luật Hôn và nhân gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.
Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
+ Đối với yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Th: Chị và anh Bùi Văn Nh tự nguyện đăng ký kết, trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh Nh thường không về nhà do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, anh chị sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay, hai anh chị không có liên lạc gì với nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Bùi Văn Nh;
+ Đối với anh Bùi Văn Nh: Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh Nh hợp lệ, nhưng anh không có ý kiến gì về việc chị Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh; ý kiến về con chung; ý kiến về tài sản, công nợ chung.
Kết quả xác minh tại nơi cư trú, địa phương chưa phải giải quyết can thiệp bất lỳ vẫn đề gì với anh Nh và chị Th, xác minh người thân mẹ anh Nh cho biết vợ chồng chị Th anh Nh có mâu thuẫn hay không, mâu thuẫn về vấn đề gì thì bà không biết.
Hội đồng xét xử nhận thấy theo lời trình bày của chị Th thì mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được. Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Th là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của chị Th, xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Bùi Văn Nh, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Không có con chung nên HĐXX không xem xét;
- Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/216 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Th.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Bùi Văn Nh;
- Về con chung: Không có;
- Tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
2. Án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0002817 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND Khu vực 13 - Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND xã nơi ĐKKH; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Quang Dự |