vanban.org

Bản án 15/2025/QĐ-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 03/03/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/03/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 275/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1954. Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt. Bị đơn: Bà Dương Thị Ái L, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bà Dương Thị H tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bà Dương Thị L"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 275/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, giữa các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2025/QĐ-PTTrà Vinh, ngày 03 tháng 03 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Đê

Ông Lê Văn Hùng

Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án dân sự sơ thẩm số: 147/2024/DS-ST ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, bị kháng cáo như sau:

Ngày 25 tháng 09 năm 2024, bà Dương Thị H là nguyên đơn có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của bà, buộc bà Dương Thị Ái L là bị đơn phải bồi thường thiệt hại cho bà với tổng số tiền bằng 16.700.000 đồng.

XÉT THẤY:

Sau khi thụ lý vụ án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2025/QĐ-PT ngày 02/01/2025, ấn định thời gian xét xử công khai vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 20/01/2025, vụ án được xét xử theo hình thức trực tuyến giữa 02 điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần là Tòa án nhân dân huyện Trà Cú. Quyết định đã được tống đạt trực tiếp cho bà Dương Thị H nhận vào lúc 14 giờ 00 ngày 07/01/2025, nhưng bà Dương Thị H vắng mặt không có lý do, cho nên vụ án được hoãn lần thứ nhất theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐ-PT ngày 20/01/2025, đã tống đạt cho đương sự hợp lệ.

Tòa án đã ban hành Thông báo mở lại phiên tòa số: 30/TB-TA ngày 18/02/2025, vụ án được mở lại lần 2 vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 03/03/2025 theo hình thức xét xử trực tiếp tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và thông báo đã được tống đạt hợp lệ cho bà Dương Thị H (có con ruột là Đỗ Quế A nhận thay, nhận vào lúc 08 giờ ngày 26/02/205) nhưng đến ngày mở phiên tòa lần 2 thì bà Dương Thị H vẫn vắng mặt và Tòa án cũng không nhận được văn bản nào của bà Dương Thị H thể hiện việc vắng mặt là do có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan dẫn đến bà H không thể đến tham dự phiên tòa được.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy tại phiên toà lần thứ 02 bà Dương Thị H đã vắng mặt không lý do, việc vắng mặt của bà H cũng không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên được coi như từ bỏ việc kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong vụ án không có kháng cáo của bị đơn, không có kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia tại phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 147/2024/DS-ST ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, trường hợp giữ nguyên bản án sơ thẩm thì đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nên buộc bà Dương Thị H phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, bà Dương Thị H là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí phúc thẩm hợp lệ, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xem xét miễn tiền án phí phúc thẩm cho bà Dương Thị H.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 và khoản 2 Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 275/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1954. Địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Dương Thị Ái L, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Dương Kiến V, sinh năm 1960. Địa chỉ: khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở hiện nay: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

+ Bà Trầm Thị Ú, sinh năm 1952. Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

- Người kháng cáo: Bà Dương Thị H là nguyên đơn trong vụ án.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 147/2024/DS-ST ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Dương Thị H. Do bà Dương Thị H được cấp sơ thẩm xem xét miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên cấp phúc thẩm không xem xét hoàn trả.

4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ