vanban.org

Bản án 15/2025/HSST — Hình sự

TAND TX. Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NG THÀNH TR - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST.
Ngày: 28-4-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1, Ông Nguyễn Phi Đính.

2, Bà Phạm Thị Quyên.

-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Thu Nguyên – Kiểm sát viên.

Ngày 28/4/2025 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 04/4/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐST-HS ngày 14/4/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành Tr; sinh năm 1986; tại: Tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký NKTT và nơi cư trú: TDP 2, phường Bình T, thị xã Buôn H, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Th (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1966; tiền án: Ngày 24/11/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Buôn H xử phạt 01 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, đến ngày 01/11/2018 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 02/3/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Buôn H xử phạt 01 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, ngày 02/9/2024 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2025, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Anh Cao Thế H, sinh năm 1992. Vắng mặt.

Địa chỉ: TDP Hợp Thành 3, phường Thống Nh, thị xã Buôn H, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân, nên Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố (TDP) 2, phường Bình T, thị xã Buôn H, tỉnh Đắk Lắk nảy sinh ý định tìm nhà dân sơ hở trong việc trông coi tài sản để đột nhập vào trộm cắp tài sản. Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/02/2025, Tr bị bộ một mình đột nhập vào trong nhà của anh Cao Thế H, sinh năm 1992, ở TDP 2, phường Bình T, thị xã Buôn H, tỉnh Đắk Lắk tìm tài sản để trộm cắp. Khi vào nhà, Tr phát hiện anh H đang nằm ngủ trên giường, nên Tr tìm kiếm trong áo khoác treo trên võng bên cạnh giường ngủ có 01 chiếc ví màu đen, thấy trên đầu giường nơi anh H đang ngủ có để một chiếc điện thoại di động Iphone 12 ProMax, màu xanh nên đã lấy bỏ vào túi quần rồi tẩu thoát đi ra ngoài theo lối vào trước đó. Khi đi ra đến ngoài hiên, Tr lục trong ví thấy có 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi ngàn đồng) tiền mặt và có nhiều giấy tờ khác nên Tr để lại toàn bộ giấy tờ trên nền nhà, chỉ lấy ví và tiền rồi trèo hàng rào ra ngoài đi bộ về nhà. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Tr lấy số tiền 990.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi nghe tin anh H đến báo cơ quan Công an phường Bình T việc anh bị mất trộm một số tài sản, Tr nghĩ rằng cơ quan Công an sẽ phát hiện ra hành vi của mình, nên đã đến Công an phường Bình T đầu thú, tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 ProMax và 01 chiếc ví màu đen.

Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 10/02/2025 của Hội đồng định giá tài 3422, UBND thị xã Buôn H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu APPLE- Iphone 12 ProMax, màu xanh, số seri: F2LF7CR0D42, số IMEI: 359015633284901, số IMEI 2: 359015633304972, thời điểm định giá: 05/02/2025, có giá trị là 11.250.000 đồng (Mười một triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng). 01 chiếc ví da hình chữ nhật, màu đen, thời điểm định giá: 05/02/2025, có giá trị là 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS, ngày 03/4/2025 truy tố bị cáo Nguyễn Thành Tr về “Tội trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Tr từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/02/2025.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX:

Cần chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an thị xã Buôn H đã trả cho anh Cao Thế H 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 ProMax và 01 ví da hình chữ nhật, màu đen là chủ sỡ hữu hợp pháp.

Về phần dân sự: Anh Cao Thế H đã nhận lại tài sản và trong quá trình điều tra, anh Cao Thế H không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 990.000 đồng nên không đề cập xem xét.

Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết được việc làm của bị cáo là sai trái, bị cáo xin Hội đồng xét xử xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo có điều kiện làm người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về nội dung: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/02/2025, Nguyễn Thành Tr lợi dụng sự sơ hở nên đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 ProMax và 01 ví da hình chữ nhật, màu đen bên trong có 990.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, do lo sợ bị phát hiện hành vi của mình, nên đã đến Công an phường Bình T đầu thú, tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 ProMax và 01 chiếc ví màu đen. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp được xác định có giá trị là 12.340.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức và biết rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài cá nhân và ý thức coi thường pháp luật, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố bị cáo Nguyễn Thành Tr về “Tội trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng“Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận. Tại Điều luật này quy định như sau:

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ...., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

…

g) Tái phạm nguy hiểm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đã 02 lần bị kết án về “Tội trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tự cải tạo, rèn luyện bản thân mình làm người lương thiện mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo thành người sống biết tôn trọng, chấp hành pháp luật.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi hoàn trả cho chủ sở hữu, được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét.

Xét mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an thị xã Buôn H đã trả cho anh Cao Thế H 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 ProMax và 01 ví da hình chữ nhật, màu đen là chủ sỡ hữu hợp pháp.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Cao Thế H đã nhận lại tài sản và trong quá trình điều tra, anh Cao Thế H không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 990.000 đồng nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành Trung phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

-Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Tr 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/02/2025.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an thị xã Buôn Hồ đã trả cho anh Cao Thế H 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 ProMax và 01 ví da hình chữ nhật, màu đen là chủ sỡ hữu hợp pháp.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành Tr phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ