- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày: 23/7/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 -ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triều Châu.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu và ông Đặng Quang Hoạch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai.
- Đại diện VKSND Khu vực 3- Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Đạo -Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực Trảng Bom: Ông Hoàng Thanh Ngọc - Cán bộ quản giáo.
Ngày 23 tháng 7 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 3-Đồng Nai, xét xử trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/ TLST-HS ngày 01/7/2025
Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 3-Đồng Nai. Điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực Trảng Bom.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QDXX-HS ngày 08/7/2025 đối với bị cáo:
- Lê Minh T, sinh ngày 16/09/2003 tại tỉnh Đồng Nai.
Hộ khẩu thường trú và cư trú: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Nay là xã B, tỉnh Đồng Nai). Số CCCD: 075203006044; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn B và bà Nguyễn Thị P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị giam giữ ngày 22/3/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, có mặt.
- Bị hại: Cháu Trần Hồ Hồng N1, sinh năm 2010. Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện T (cũ) nay là xã B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp cho cháu N1: ông Trần Như C và bà Hồ Thị B1 (là cha mẹ cháu N1).
(Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Minh T, sinh ngày 16/9/2003, cư trú tại: ấp A, xã B, huyện T (cũ), tỉnh Đồng Nai là đối tượng không có việc làm ổn định. Khoảng 18 giờ ngày 22/3/2025, trong lúc đi bộ trên đường G từ quán N thuộc ấp A, xã B, huyện T (cũ) về nhà thì T thấy cháu Trần Hồ Hồng N1, sinh ngày 23/12/2010 đang ngồi chơi và sử dụng điện thoại hiệu Iphone 11 Promax trước cửa nhà, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của cháu N1 bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này T đi bộ lại gần cháu N1, dùng tay phải giật điện thoại rồi bỏ chạy về hướng đường A để tẩu thoát thì bị anh Phạm Đình T1 (hàng xóm của cháu N1) cùng người dân bắt quả tang, sau đó giao Công an xã B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ để điều tra theo thẩm quyền (bút lục 14-15).
Ngày 22/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã yêu cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt. Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 29/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: "01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, 256GB đã qua sử dụng. Trị giá: 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm ngàn đồng) (bút lục số 51-61).
Ngày 25/3/2025, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án và Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Minh T về tội “Cướp giật tài sản”. Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên (bút lục: 01; 07; 38-47).
* Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại Apple Iphone 11Promax 256GB.
- 01 áo thun màu đen, 01 quần dài màu đen.
Tại cáo trạng số 199/CT-VKSTB, ngày 28/6/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom (nay là VKSND khu vực 3 - Đồng Nai) đã truy tố bị cáo Lê Minh T về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự (Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lê Minh T phạm tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
* Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11Promax 256GB, là tài sản của cháu Trần Hồ Hồng N1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho cháu Trần Hồ Hồng N1.
- Đối với 01 áo thun màu đen, 01 quần dài màu đen đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Về phần dân sự: Cháu Trần Hồ Hồng N1 yêu cầu bị cáo Lê Minh T bồi thường số tiền 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm ngàn đồng) về việc sửa điện thoại do bị cáo T cướp giật làm cho điện thoại bị hỏng. Bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường số tiền trên, cháu N1 đã nhận tiền và cam kết không yêu cầu, thắc mắc gì về phần dân sự (bút lục 26-29).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Nai), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và bị hại không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Thực tế có cơ sở chứng minh, vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 22/3/2025, trên đường Đ thuộc ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai), Lê Minh T đã cướp giật 01 điện thoại Iphone 11Promax 256GB của cháu Trần Hồ Hồng N1 (sinh ngày 23/12/2010), trị giá 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm ngàn đồng) thì bị bắt quả tang. Nên có cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của bộ luật hình sự (Bị cáo phạm tội đối với người dưới 16 tuổi).
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác (ở đây là người dưới 16 tuổi) được pháp luật bảo vệ.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu đen, 01 quần dài màu đen.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lê Minh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu đen, 01 quần dài màu đen (theo biên bản giao nhận lập ngày 28/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Đồng Nai).
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Người có mặt tính từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Bị cáo, bị hại; - UBND nơi bị cáo cư trú; - TAND tỉnh; - VKSND cùng cấp; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra; - Phòng PV 06 công an tỉnh; - THADS Đồng Nai; - Lưu h/s, án văn. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Triều Châu |