vanban.org

Bản án 15/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 19/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BỊ CÁO HUỲNH VĂN LẮM BỊ TRUY TỐ VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HSST
Ngày 19-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thông Minh Tấn

Ông Nguyễn Thanh Phương

- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Duy Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 11 tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 11, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Phan Quốc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 19-8-2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 11, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/HSST ngày 22/7/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 28/7/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên:. không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1996, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn Th M, xã T Th, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: không biết chữ; con của ông Huỳnh Văn Đ., sinh năm 1952; con của bà Hàng Thị T., sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1983, bị cáo là người con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ: Lâm Thị O, sinh năm 2000; Con: chưa có; Tất cả hiện trú tại xã T Th, tỉnh Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: không.

- Nhân thân: Ngày 04/02/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 25/2021/HSST, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 04/8/2022, đến nay đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

- Bị hại:

Lưu Văn Đg – sinh năm 1964 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Th M, xã T Th, tỉnh Lâm Đồng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lâm Thị Oanh – 2000 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Th M, xã T Th, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Huỳnh Văn L. bị Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 11 – Lâm Đồng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Huỳnh Văn L. nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền. L. biết được ông Lưu Văn Đg (sinh năm 1964, trú thôn Th M, xã T Th, tỉnh Lâm Đồng) có để các cuộn dây diện, có gắn đuôi đèn dùng chong điện thanh long ở phía trước nhà của ông Đông nên vào khoảng 19 giờ ngày 09/4/2025, L. đi bộ đến nhà ông Đông, lén lút lấy trộm 08 cuộn dây diện màu xanh, hiệu CADIVI-VCmd (02x1,0)mm lõi đồng, dài 264m; 01 cuộn dây diện màu vàng, hiệu THIPHA CABLE – VCmd (02x1,5)mm lõi đồng, dài 40m; 160 đoạn dây diện màu xanh CADIVI – VCmd (02x0,1)mm lõi đồng, mỗi đoạn dài 0,3m, tổng chiều dài 48m và 160 đuôi đèn màu đen, chất liệu nhựa, có đồng bên trong, không rõ nhãn hiệu, kích thước (07x05x05)cm, rồi đem đến ngôi nhà hoang ở gần đó cất giấu. Sau đó, L. đi bộ về nhà lấy xe mô tô hiệu Winner, BKS 86B4-360.10 quay lại chở số dây diện, đuôi đèn nêu trên đi bán nhưng chưa bán được. Đến sáng ngày 11/4/2025, ông Đông phát hiện mất số dây điện, đuôi đèn trên nên trình báo Công an. Qua quá trình điều tra, truy xét và đấu tranh thì L. đã thừa nhận hành vi trộm cắp nêu trên và giao nộp số dây điện, đuôi đèn đã trộm cắp của ông Đông. (Bút lục số 32; 34-47; 53-58)

Căn cứ Kết luận về định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 12/2025-HĐĐG ngày 13/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Thuận Nam, kết luận: các tài sản gồm 264m dây diện CADIVI (02x1,0mm); 40m dây điện THIPHA CABLE (2x1,5mm); 48m dây điện CADIVI (02x1,0mm) và 160 đuôi đèn có tổng giá trị là 2.800.000 đồng. (Bút lục số 19)

Vật chứng của vụ án gồm: 08 cuộn dây diện màu xanh, hiệu CADIVI-VCmd (02x1,0)mm lõi đồng, dài 264m; 01 cuộn dây diện màu vàng, hiệu THIPHA CABLE – VCmd (02x1,5)mm lõi đồng, dài 40m; 160 đoạn dây diện màu xanh CADIVI – VCmd (02x0,1)mm lõi đồng, mỗi đoạn dài 0,3m, tổng chiều dài 48m; 160 đuôi đèn màu đen, chất liệu nhựa, có đồng bên trong, không rõ nhãn hiệu, kích thước (07x05x05)cm. (Bút lục số 38)

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho ông Lưu Văn Đg.

Đối với xe mô tô hiệu Winner, BKS 86B4-360.10 Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về vấn đề dân sự: Ông Lưu Văn Đg đã nhận lại các cuộn dây điện và đuôi đèn nên không có yêu cầu gì.

Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 15/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 11 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Huỳnh Văn L. về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 11 – Lâm Đồng phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Văn L. phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp Dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Huỳnh Văn L. từ 9 đến 18 tháng tù

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã mô tả, thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận , Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 11 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn L. khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận này phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ; phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, do đó đã đủ cơ sở xác định:

Huỳnh Văn L. là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào ngày 09/4/2025, tại thôn Th M, xã T Th, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (nay là xã T Th, tỉnh Lâm Đồng), Huỳnh Văn L. có hành vi trộm cắp 264m dây diện CADIVI (02x1,0mm); 40m dây điện THIPHA CABLE (2x1,5mm); 48m dây diện CADIVI (02x1,0mm) và 160 đuôi đèn có tổng giá trị là 2.800.000 đồng của ông Lưu Văn Đg.

Hành vi của Huỳnh Văn L. đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về mức hình phạt:

Bị cáo Huỳnh Văn L. là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và đã được xóa án tích, bị cáo hiểu rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là điều pháp luật nghiêm cấm. Tuy nhiên, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao đồng mà Huỳnh Văn L. đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, được bị hại xin giảm nhẹn hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 , khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng: đã xử lý xong nên không đặt ra xử lý tiếp theo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lưu Văn Đg đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp nên không có yêu cầu gì.

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Văn L., phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Huỳnh Văn L. 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án

[2] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn L. phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ