- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HSST Ngày 27/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Hoàng Nam
Ông Hà Bửu Khánh
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Phượng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/HSST, ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐST – HS, ngày 14 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Lý Hoàng T, sinh ngày 22/5/1987; tại huyện G, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Hữu T1 và bà Nguyễn Thị K; Có vợ tên Huỳnh Thị Như Ý (đã ly thân); Con 01 người sinh năm 2021; Tiền sự, Tiền án: Không. Bị bắt giữ ngày 12/11/2024, chuyển sang tạm giam ngày 21/11/2024 cho đến nay. Bị cáo tạm giam có mặt.
2. Người bị hại: Anh Huỳnh Thanh B - sinh năm: 1976; địa chỉ: ấp K, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 11 tháng 11 năm 2024, Lý Hoàng T, sinh ngày 22/5/1987, cư trú ấp X, xã H, huyện G đi nhờ xe người quen đến kênh B thuộc xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang, khi đi đến 01 căn nhà (bị can không xác định được nhà ai) gặp nhiều người, trong đó T biết một người thanh niên tên M (không rõ nhân thân, lai lịch), còn lại T không biết tên. Tại đây, mọi người ngồi nói chuyện và cùng nhau sử dụng ma túy, T cũng vào sử dụng trái phép chất ma túy. Sau đó, mọi người nghỉ và đi hết còn lại M và T. Lúc này M nói không có tiền xài. Cả hai bàn bạc tối sẽ đi tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày M đi mượn võ máy (chưa xác định võ máy của ai), sau đó chở T tìm tài sản trộm. Mến chạy theo các tuyến kênh của xã H hướng về xã H, khi đến nhà của anh Huỳnh Thanh B ngụ ấp K, xã H, M rọi đèn pin thấy 01 vỏ Composite và 01 máy dầu Diesel, không người trông coi đang đậu dưới mé sông nhà anh B, M hỏi T “làm không” (tức là trộm không), T trả lời “làm” (tức là đồng ý trộm võ máy). Lúc này M chạy võ máy vừa qua khỏi chỗ đậu vỏ máy của anh B cách khoảng 50m, M điều khiển võ máy quay lại đến gần chỗ đậu vỏ máy của anh B, M tắt máy, T lấy dầm bơi vỏ máy cặp lại, T lén lút tháo dây cột vỏ máy của anh B rồi đẩy ra ngoài, T kè 02 vỏ bơi được khoảng 50m, Trạng qua vỏ máy vừa trộm được nổ máy chạy ra hướng kênh KH9, M chạy theo sau, khi vào kênh B thuộc xã H, đến con kênh thủy lợi, T tắt máy bơi vào bờ thì bị Công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Sau đó, Công an mời Trạng về làm việc, tại đây T thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp võ máy. Đồng thời, test nhanh Lý Hoàng T dương tính với ma túy. Đối với người tên M điều khiển võ máy chạy đi đâu thì không biết rõ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 34/BKL/HĐĐG ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G kết luận:
- 01 (một) vỏ Composite màu trắng – xanh và 01 (một) máy dầu Diesel, nhãn hiệu YANMAR S65-E, màu đỏ, đã qua sử dụng, có láp bằng kim loại, chiều dài 2,55m. Tổng cộng trị giá: 9.750.000 đồng
Về vật chứng của vụ án thu giữ:
- 01 (một) vỏ Composite màu trắng - xanh, trên hai thành vỏ có dán dòng chữ “Hậu Giang C 0711.3876037 Lướt Sóng”; dài 9,3m, đã qua sử dụng.
- 01 (một) máy dầu Diesel, nhãn hiệu YANMAR S65-E, màu đỏ, đã qua sử dụng, có láp bằng kim loại, chiều dài 2,55m.
- 01 (một) cây kìm bằng kim loại, chiều dài 16cm, tay cầm bao nhựa màu đỏ - đen, đã qua sử dụng.
- 01 (một) đèn pin đội đầu, nhãn hiệu “Yến Quân” màu xanh - nâu - đen, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét xử lý. Tại bản cáo trạng số 19/CT- VKS ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Lý Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trạng, Kiểm sát viên luận tội căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Hoàng T từ 09 tháng đến 01 (một) tù.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại tài sản bị mất cho người bị hại.
Tịch thu tiêu hủy những vật chứng không còn giá trị sử dụng như sau:
- 01 (một) cây kìm bằng kim loại, chiều dài 16cm, tay cầm bao nhựa màu đỏ - đen, đã qua sử dụng
- 01 (một) đèn pin đội đầu, nhãn hiệu “Yến Quân” màu xanh - nâu - đen, đã qua sử dụng
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại số tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị miễn xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh của bị cáo gặp khó khăn về kinh tế nên đề nghị miễn nộp.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị hại.
Về hành vi của bị cáo:
Bị cáo Lý Hoàng T khai nhận: Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 11/11/2024 sau khi tụ tập bạn bè cùng nhau sử dụng ma túy xong, bị cáo cùng với M rủ nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo cùng với M chạy vỏ máy M mượn được đến tuyến kênh xã H hướng về xã H, khi đến bến nhà anh Huỳnh Thanh B thì M rọi đèn pin thấy một vỏ Composite và một máy dầu Diesel không người trông coi đậu dưới mé sông nhà anh B, bị cáo lấy dầm bơi vỏ máy cặp lại, rồi tháo dây lén lút lấy trộm vỏ máy của anh B đẩy ra ngoài, kè đi khoảng 50 m. Sau đó, bị cáo nổ máy chạy đến kênh thủy lợi rồi tắt máy bơi vào bờ thì bị Công an phát hiện bắt giữ cùng với tang vật của vụ án.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên Tòa cho thấy phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện G đã thu thập được. Tài sản bị cáo trộm cắp theo kết quả định giá là 9.750.000 đồng (chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Đối chiếu hành vi trên của bị cáo với quy định của Bộ luật Hình sự, có căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng truy tố bị cáo Lý Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Trạng là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương và gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo cũng nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm được mọi người tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Nhưng vì bản tính chây lười lao động, muốn hưởng thụ trên mồ hôi, công sức của người khác, lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong quản lý tài sản, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng cho bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm thể hiện tính răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội và cũng đảm bảo tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
{3.1} Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
{3.2} Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng cho nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trên.
{3.3} Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên tên M cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo Trạng, do chưa xác định được nhân thân lý lịch cụ thể nên chưa có căn cứ xử lý, khi nào xác định được nhân thân sẽ xử lý sau.
Việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của người tên M và nhiều người thanh niên khác do không xác định được nhân thân lý lịch và cũng không xác định được ma túy nên không có cơ sở xử lý.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: Một cây kìm bằng kim loại, chiều dài 16cm, tay cầm bao nhựa màu đỏ - đen, đã qua sử dụng. Một đèn pin đội đầu, nhãn hiệu “Yến Quân” màu xanh - nâu - đen, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên miễn xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí: Buộc bị cáo Trạng phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
1. Tuyên bố bị cáo Lý Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Lý Hoàng T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 12/11/2024
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên miễn xét.
5. Xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: Một cây kìm bằng kim loại, chiều dài 16 cm, tay cầm bao nhựa màu đỏ - đen (đã qua sử dụng). Một đèn pin đội đầu, nhãn hiệu “Yến Quân” màu xanh - nâu - đen (đã qua sử dụng).
6. Về án phí: Bị cáo Trạng phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm đồng).
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 (Mười lăm) ngày; Bị cáo được tính kể từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2025). Người bị hại tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện ; - Trại tạm giam; - Cơ quan điều tra; - CQ Thi hành án dân sự huyện; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ Tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Chuyên |