vanban.org

Bản án 15/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án Khu vực - QK4, án Quân khu 4 Tuyên án 30/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con d…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Thị H; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Thị H; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC
QUÂN KHU 4

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 15/2025/HS-ST
Ngày 30 tháng 9 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 4

- Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1// Trần Văn Hùng.

Các Hội thẩm quân nhân:

+ 2// Phùng Duy Phong.

+ 2// Phạm Xuân Hiếu.

Thư ký phiên tòa: 3/ Nguyễn Thị Cẩm Tú – Thư ký Tòa án quân sự khu vực Quân khu 4.

Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 tham gia phiên tòa: 2// Phan Hồng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2025 tại Phòng xử án Tòa án quân sự khu vực Quân khu 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 29/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 15/9/2025 đối với bị cáo:

Trần Thị H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19/11/1975 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú Thôn 4, thị trấn SV, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã SV, tỉnh Thanh Hóa); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số 038175009339, cấp ngày 20/9/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn A1 (Đã chết) và bà Trần Thị L1; Có chồng là Mai Văn M1và 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Lê Thị N, sinh này 20/7/1974. Nơi cư trú thôn NT, xã TH, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã TL, tỉnh Thanh Hóa). Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Hoàng Đình Đức A, sinh ngày 29/10/2001. Nơi cư trú Thôn 1, xã TT, huyện TX1, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã TX2, tỉnh Thanh Hóa). Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Hoàng Văn HG, sinh ngày 23/10/1979. Nơi cư trú Khu 6, thị trấn TX3, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã TX4, tỉnh Thanh Hóa). Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Lương Thị HH, sinh ngày 17/02/2003. Nơi cư trú thôn LT, xã LT1, huyện TX1, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã LT1, tỉnh Thanh Hóa). Vắng mặt.

+ Vũ Thị T, sinh ngày 27/10/1983. Nơi cư trú Khu phố 1, thị trấn SV, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã SV, tỉnh Thanh Hóa). Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Vũ Thị T1, sinh ngày 20/12/1976. Nơi cư trú Khu phố 4, thị trấn SV, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã SV, tỉnh Thanh Hóa). Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Trịnh Ngọc D, sinh ngày 23/6/1987. Nơi cư trú Khu 2, thị trấn TX3, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã TX4, tỉnh Thanh Hóa), hiện đang chấp hành án tại Trại giam T91 Quân khu 4. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong quá trình giải quyết vụ án về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, Tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa và Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas, Cơ quan điều tra hình sự khu vực 1 Các tổ chức sự nghiệp Bộ quốc phòng đã tách hành vi của các cá nhân có liên quan, quá trình điều tra, xác minh đã xác định được như sau:

1. Hành vi của Trần Thị H.

Trần Thị H, cư trú tại Thôn 4, thị trấn SV, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã SV, tỉnh Thanh Hóa) là Đại lý bảo hiểm của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas, trong quá trình tham gia bảo hiểm Trần Thị H nhận thấy việc chi trả quyền lợi bảo hiểm được thực hiện đơn giản, lỏng lẻo nên đã nảy sinh ý định sử dụng hồ sơ khám chữa bệnh giả để làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm với mục đích chiếm đoạt tiền của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas. Do có quen biết với Trịnh Ngọc D, cư trú tại Khu 2, thị trấn TX3, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã TX4, tỉnh Thanh Hóa) là Điều dưỡng viên thuộc Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa, vào ngày 25/4/2022 Trần Thị H đã liên hệ với Trịnh Ngọc D để nhờ làm 01 (Một) hồ sơ khám chữa bệnh chích lẹo mắt mang tên Vũ Thị T nhưng không có bệnh nhân đến khám thì D đồng ý và Trần Thị H đã trả cho Trịnh Ngọc D số tiền 1.600.000 (Một triệu sáu trăm nghìn đồng), sau khi nhận được hồ sơ khám chữa bệnh mang tên Vũ Thị T thì Trần Thị H đã nhờ người viết hộ đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm nhưng không nhớ là ai rồi Scan và sử dụng hòm thư điện tử có địa chỉ [email protected] để gửi tới hòm thư điện tử của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas có địa chỉ [email protected], đồng thời gửi hồ sơ khám chữa bệnh mang tên Vũ Thị T bằng đường bưu điện đến Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas với mục đích thanh toán quyền lợi bảo hiểm. Tuy nhiên Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas đã từ chối thanh toán.

2. Hành vi của Lê Thị N.

Lê Thị N cư trú tại xã TL, tỉnh Thanh Hóa là Đại lý bảo hiểm Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas và là người bán nước trước cổng Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa có quen biết với Hoàng Đình Đức A, cư trú Thôn 1, xã TX2, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng giữa tháng 02/2022 Hoàng Đình Đức A có gọi điện thoại nhờ Lê Thị N liên hệ để đưa người nhà vào khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa thì N đồng ý, khi Hoàng Đình Đức A và người nhà đến thì Lê Thị N có dẫn vào gặp Hoàng Văn HG là Điều dưỡng viên của Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa để nhờ giúp đỡ khám và lấy hồ sơ khám bệnh, sau đó Lê Thị N đi ra tiếp tục bán hàng.

Tại Kết luận giám định của Phòng Giám định kỹ thuật hình sự, Bộ Quốc phòng số 280/KL-GĐKTHS ngày 23/12/2022; số 310/KL-GĐKTHS ngày 20/11/2023 thể hiện so sánh các mẫu chữ viết trên các sổ khám bệnh mang tên Lương Thị HH và Vũ Thị T với chữ viết của Trịnh Ngọc D là do cùng một người viết ra.

Tại Kết luận giám định số 302/KL-GĐKTHS ngày 13/11/2023 của Phòng Giám định kỹ thuật hình sự, Bộ Quốc phòng so sánh chữ viết trên đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm hỗ trợ viện phí và chi phí phẫu thuật của khách hàng Vũ Thị T với chữ viết của Trần Thị H không phải do cùng một người viết ra.

Tại Biên bản làm việc về nội dung đăng nhập vào tài khoản email lúc 08 giờ 05 phút ngày 10/11/2023 của Cơ quan điều tra hình sự khu vực 1 Các tổ chức sự nghiệp Bộ quốc phòng về việc đăng nhập tài khoản email có địa chỉ [email protected] của Trần Thị H xác định có 07 (Bảy) thư điện tử được gửi đến hòm thư điện tử của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas có địa chỉ [email protected] liên quan đến thủ tục chi trả quyền lợi bảo hiểm đối với hợp đồng số 190000089246 mang tên Vũ Thị T.

Lời khai của người làm chứng Lương Thị HH trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bản thân chị HH có tham gia bảo hiểm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ MB Ageas do Hoàng Đình Đức A tư vấn, vào khoảng tháng 02/2022 thì chị HH được Hoàng Đình Đức A dẫn đến Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa để khám bệnh mặc dù sức khỏe bình thường, chị HH khẳng định bản thân không chích lẹo mắt, không có bệnh về mắt.

Lời khai của người làm chứng Hoàng Đình Đức A trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hoàng Đình Đức A là Đại lý bảo hiểm Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas nhận thấy việc chi trả quyền lợi bảo hiểm được thực hiện đơn giản, lỏng lẻo nên đã nảy sinh ý định sử dụng hồ sơ khám chữa bệnh giả để thực hiện làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm với mục đích chiếm đoạt tiền của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas. Do có quen biết với Lê Thị N nên Hoàng Đình Đức A có liên hệ hỏi về việc làm hồ sơ bệnh án về chích lẹo mắt cho khách hàng tham gia bảo hiểm thì được Lê Thị N đồng ý. Vào khoảng tháng 02/2022 thì Hoàng Đình Đức A có đưa Lương Thị HH đến gặp để Lê Thị N dẫn vào gặp bác sỹ khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa, sau đó người này dẫn tới khoa mắt tại đây Hoàng Đình Đức A đã chủ động đặt vấn đề với bác sỹ khám bệnh về việc làm hồ sơ khám chữa bệnh về chích lẹo mắt, mặc dù Lương Thị HH không làm bất cứ thủ thuật gì thì được bác sỹ đồng ý, vài ngày sau thì Hoàng Đình Đức A gặp Lê Thị N để lấy hồ sơ khám bệnh, sau đó sử dụng làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm để chiếm đoạt số tiền 10.000.000 (Mười triệu đồng) của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas.

Lời khai của Lê Thị N trong hồ sơ vụ án thể hiện: Lê Thị N có quen biết với Hoàng Đình Đức A vào khoảng tháng 02/2022 thì Hoàng Đình Đức A có liên hệ để nhờ dẫn người nhà đến khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện TXX, tỉnh Thanh Hóa, sau đó Lê Thị N dẫn Hoàng Đình Đức A và người nhà vào gặp Hoàng Văn HG để khám bệnh và ra về.

Lời khai của Hoàng Văn HG trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng tháng 02/2022 Lê Thị N có dẫn hai người vào Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa gặp Hoàng Văn HG để nhờ làm thủ tục khám bệnh, sau đó Hoàng Văn HG dẫn hai người này vào gặp Trịnh Ngọc D rồi trở về làm việc.

Lời khai của Vũ Thị T1 và Vũ Thị T trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vũ Thị T chưa đi khám bệnh chích lẹo mắt và không làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị H thừa nhận hành vi phạm tội của mình, theo lời khai của bị cáo: Trần Thị H là Đại lý bảo hiểm của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas, trong quá trình tham gia bảo hiểm nhận thấy việc chi trả quyền lợi bảo hiểm được thực hiện đơn giản, lỏng lẻo nên đã nảy sinh ý định sử dụng hồ sơ khám chữa bệnh giả để làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm với mục đích chiếm đoạt tiền của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas nên đã liên hệ với Trịnh Ngọc D là Điều dưỡng viên thuộc Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa để làm hồ sơ khám bệnh về chích lẹo mắt nhưng không có bệnh nhân đến khám thì Trịnh Ngọc D đồng ý, Trần Thị H gửi thông tin bệnh nhân vài ngày sau thì gặp Trịnh Ngọc D để nhận 01 (Một) hồ sơ khám chữa bệnh chích lẹo mắt mang tên Vũ Thị T và đã trả cho Trịnh Ngọc D số tiền 1.600.000 (Một triệu sáu trăm nghìn đồng), sau khi nhận được hồ sơ khám chữa bệnh trên Trần Thị H đã nhờ người viết đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm nhưng không nhớ là nhờ ai rồi Scan hồ sơ khám bệnh và sử dụng hòm thư điện tử có địa chỉ [email protected] để gửi về hòm thư điện tử của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas có địa chỉ [email protected] đồng thời gửi hồ sơ khám chữa bệnh mang tên Vũ Thị T bằng đường bưu điện đến Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas với mục đích thanh toán quyền lợi bảo hiểm. Tuy nhiên Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas đã từ chối thanh toán. Vũ Thị T và Vũ Thị T1 không biết việc Trần Thị H làm hồ sơ khám bệnh chích lẹo mắt giả và sử dụng hồ sơ khám chữa bệnh giả mang tên Vũ Thị T để làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas.

Lời khai của người làm chứng Trịnh Ngọc D tại phiên tòa thể hiện: Trịnh Ngọc D đã làm giả hồ sơ khám chữa bệnh của Vũ Thị T theo đề nghị của Trần Thị H và hồ sơ khám chữa bệnh giả mang tên Lương Thị HH nhưng không nhớ là làm cho ai.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS41 ngày 27/8/2025 của Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 truy tố bị can Trần Thị H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tranh luận tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thị H như trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị H là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”,“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì có mẹ đẻ là bà Trần Thị L1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất.

Trên cơ sở đó Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt Trần Thị Hoa từ 33.000.000 (Ba mươi ba triệu đồng) đến 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu đồng).

Hình phạt bổ sung: Không.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Trần Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Tranh luận tại phiên tòa và lời nói sau cùng bị cáo Trần Thị H đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bản thân, gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trong vụ án đều thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, lời khai này hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo; người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Kết luận giám định, Biên bản kiểm tra việc đăng nhập tài khoản email. Bị cáo Trần Thị H là Đại lý bảo hiểm của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas đã liên hệ với Trịnh Ngọc D là Điều dưỡng viên thuộc Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa để làm hồ sơ khám chữa bệnh giả mang tên Vũ Thị T sau đó sử dụng hồ sơ khám chữa bệnh giả này để làm thủ tục thanh toán quyền lợi bảo hiểm với mục đích chiếm đoạt tiền của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas nhưng bị từ chối thanh toán.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 truy tố bị can Trần Thị H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

Đối với hành vi của Trịnh Ngọc D, Hoàng Đình Đức A, Hoàng Văn HG đã bị điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của Lê Thị N có liên hệ với Hoàng Văn HG để dẫn Hoàng Đình Đức A và Lương Thị HH vào khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa TXX, tỉnh Thanh Hóa, tuy nhiên Lê Thị N không biết sổ khám bệnh mang tên Lương Thị HH là giả và để sử dụng vào mục đích gì.

Đối với Vũ Thị T và Vũ Thị T1 không biết việc Trần Thị H làm giả hồ sơ khám bệnh và sử dụng hồ sơ khám bệnh mang tên Vũ Thị T để chiếm đoạt tiền của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas

Đối với hành vi của các cá nhân trên không đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự nên Kiểm sát viên không đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

. Về tính chất hành vi của bị cáo.

Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó, việc xử lý hình sự đối với bị cáo là rất cần thiết.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị H là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”,“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì có mẹ đẻ là bà Trần Thị L1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất là có cơ sở.

. Về quyết định hình phạt của bị cáo.

Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Trần Thị H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài lần phạm tội lần này chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên chỉ cần áp dụng khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự để xử phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Bị cáo bị xử phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Tuy nhiên, xét về hoàn cảnh gia đình bị cáo Trần Thị H khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt.

. Các vấn đề khác.

Đối với số tiền 1.600.000 (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) mà Trần Thị H đã đưa cho Trịnh Ngọc D và số tiền 10.000.000 (Mười triệu đồng) của Hoàng Đình Đức A chiếm đoạt của Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas đã xử lý trong Bản án hình sự sơ thẩm 01/2025/HS-ST ngày 15/01/2025 của Tòa án quân sự khu vực Quân khu 4 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Trần Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g, khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự

Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Thị H số tiền 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu đồng).

2. Về án phí

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo đối với bản án

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 30/9/2025) bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự Quân khu 4.

Cỡ chữ