vanban.org

Bản án 15/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 16/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Hồng L và Đoàn Thị Thu T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đoàn Thị Hồng L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/01/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Hồng L và Đoàn Thị Thu T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/ 2025 /HS-ST
Ngày: 16 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông Trần Văn Sơn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy T - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 132/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132 /2025/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Đoàn Thị Hồng L; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 27/7/1987; tại: tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ E, phường M, quận N, TP.Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; cha: Đoàn Tấn L1 và mẹ Phạm Thị D. Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ ba; chồng: Lê Văn B. Bị cáo có 03 con (con lớn nhất 13 tuổi, con nhỏ nhất 10 tuổi); Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Đoàn Thị Thu T1; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 16/3/1989; tại: T.Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ 25, P.A (An HảiTây cũ), quận S, TP.Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Cha Đoàn Tấn L1 và mẹ Phạm Thị D. Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ tư, chồng Ngô Hùng H. Bị cáo có 03 con (con nhỏ nhất 08 tuổi); Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Thị Hồng L: Ông Lê Bảo Â, sinh năm: 1993 -Luật sư thuộc Trung tâm T3. Địa chỉ: C C, phường H, quận C, TP Đà Nẵng, có mặt.

Người bị hại: Công ty cổ phần D2. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị P – chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Chị Lê Thị Hồng V, sinh năm 1994. Địa chỉ: H đường V, P . T, Q . S, TP.Đà Nẵng, vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Quang D1, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Tổ E, P . C, Q . T, TP.Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào tối ngày 03/10/2024, Đoàn Thị Hồng L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dame màu nâu BKS 60L5-6178 đi nhặt phế liệu trên địa bàn P.M, Q.N, TP.Đà Nẵng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, L đi ngang Siêu thị W+ tại địa chỉ số H đường N, P . M, Q.N, TP.Đà Nẵng phát hiện 01 cục nóng máy điều hòa hiệu LG R410A đang để trước siêu thị, không có người trông coi. Thấy tài sản có giá trị nên L nảy sinh ý định trộm cắp để bán kiếm tiền nhưng do cục nóng điều hòa to nặng, cồng kềnh một mình không khiêng được lên xe nên L đi kiếm người phụ giúp. L điều khiển xe đến đoạn ngã tư đường H - D, P.M, Q.N, TP.Đà Nẵng thì gặp Đoàn Thị Thu T1 và rủ T1 cùng đi trộm cục nóng điều hòa trên; T1 đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Especial màu xanh BKS 43H5-7192 đi theo Lang. Khi đến trước số H đường N, L và T1 cùng vào khiêng cục nóng bỏ lên xe BKS 60L5-6178. Sau đó, L chở cục nóng về tiệm phế liệu số 05 đường M, P . M, Q.N, TP.Đà Nẵng còn T1 chạy xe theo sau. Khi về đến tiệm, L và T1 cùng khiêng cục nóng cất vào trong nhà kho chờ bán kiếm tiền. Đến ngày 04/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an Q.Ngũ Hành Sơn đã tiến hành kiểm tra hành chính, khám xét khẩn cấp và tạm giữ tang vật.

* Theo kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐGTS ngày 16/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Q . N kết luận: Cục nóng điều hòa nhãn hiệu LG R410A, loại âm trần cassette 4 hướng thổi, 1 chiều, công suất: 3.15-10.5-11.55 kw,Inverter-ATUQ36GNLE6+ATNQ36GNLE6. Tổng giá trị tài sản định giá là: 5.228.000đồng.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 131/CT-VKS- NHS ngày 27/11 /2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Hồng L và Đoàn Thị Thu T1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố Đoàn Thị Hồng L và Đoàn Thị Thu T1 về tội danh như đã nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Đoàn Thị Hồng L và Đoàn Thu T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đoàn Thị Hồng L từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đoàn Thị Thu T1 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

* Về phần xử lý vật chứng:

- Cơ quan CSĐT Công an Q.Ngũ Hành S đã trả lại 01 cục nóng điều hòa nhãn hiệu LG R410A cho Công ty cổ phần D3 là có căn cứ

- Đối với xe mô tô hiệu Especial BKS 43H5-7192 do anh Trịnh Quang D1 đứng tên sở hữu. Anh Dũng cho T1 mượn xe này để làm phương tiện đi lại. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an Q.Ngũ Hành S đã trả xe cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ .

- Đối với xe mô tô hiệu Dame màu nâu BKS: 60L5-6178 do anh Nguyễn Thanh T2 (SN: 1978; HKTT: Số A G, X.G, H.Thống Nhất, T.Đồng Nai) đứng tên sở hữu. Lang khai đây là xe được anh T2 cho lại vào năm 2020 để sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an Q.N đã tiến hành xác minh tuy nhiên anh T2 hiện không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

* Về dân sự: Đại diện của bị hại không yêu cầu nên không đề cập đến.

* Tại phiên tòa, vị luật sư bào chữa cho bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Hồng L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo hiện chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội hạn chế về nhận thức pháp luật, bị cáo có thái độ khai báo hợp tác, thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc diện nghèo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng để cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ là đảm bảo chính sách khoan hồng của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, đây là lần đầu phạm tội nên các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau: Vào ngày 03/10/2024 tại Siêu thị W+ địa chỉ số H đường N, P . M, Q.N, TP.Đà Nẵng, Đoàn Thị Hồng L và Đoàn Thị Thu T1 đã lén lút trộm cắp 01 cục nóng điều hòa nhãn hiệu LG R410A trị giá 5.228.000 đồng.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Đoàn Thị Hồng L và Đoàn Thị Thu T1 về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy hết sức liều lĩnh và táo bạo. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người bị hại khi quản lý đã lén lút trộm cắp 01 cục nóng điều hòa nhãn hiệu LG R410A trị giá 5.228.000 đồng. Các bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L là người khởi xướng đề nghị và rủ bị cáo T1 cùng thực hiện hành vi trộm cắp, do vậy mức phạt đối với bị cáo L cao hơn bị cáo T1 là phù hợp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội.

Xét tính chất vụ án thì thấy, các bị cáo còn trẻ có sức khỏe, có đủ nhận thức được việc làm chính đáng để đem lại lợi ích cho bản thân cũng như làm gương cho con, cháu, góp phần có ích cho xã hội nhưng ngược lại các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác khi không được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật. Hành vi này xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thấy các bị cáo đã khai báo thành khẩn, rõ ràng, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo đều có con bị khuyết tật nhận trợ cấp xã hội hàng tháng, bị cáo L thuộc diện hộ nghèo nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Nhận thấy các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, do đó cần áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, thể hiện tính chất nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an Q.Ngũ Hành S đã trả lại 01 cục nóng điều hòa nhãn hiệu LG R410A cho Công ty cổ phần D4 commerce là có căn cứ

- Đối với xe mô tô hiệu Especial BKS 43H5-7192 do anh Trịnh Quang D1 đứng tên sở hữu. Anh Dũng cho T1 mượn xe này để làm phương tiện đi lại. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an Q.Ngũ Hành S đã trả xe cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

- Đối với xe mô tô hiệu Dame màu nâu BKS: 60L5-6178 do anh Nguyễn Thanh T2 đứng tên sở hữu. Lang khai đây là xe được anh T2 cho lại vào năm 2020 để sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an Q.N đã tiến hành xác minh tuy nhiên anh T2 hiện không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Về phần dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì nên không đề cập đến.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của HĐXX.

Ý kiến của vị luật sư yêu cầu cho bị cáo Đoàn Thị Hồng L được mức hình phạt thấp nhất và tuyên cải tạo không giam giữ, HĐXX không chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thị Hồng L và Đoàn Thị Thu T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đoàn Thị Hồng L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/01/2025).

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đoàn Thị Thu T1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/01/2025).

Giao bị cáo Đoàn Thị Hồng L cho UBND phường M, quận N, Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Giao bị cáo Đoàn Thị Thu T1 cho UBND phường A (An Hải T cũ) quận S, thành phố Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo T1 và L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

3/ Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích án treo)

Cỡ chữ