vanban.org

Bản án 15/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 16/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Anh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày: 16-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Trúc Phương

2. Ông Phạm Văn Động

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đông Vũ - Kiểm sát viên. o

Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/HSST-QĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Anh T - sinh ngày 17/9/1999. Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Ấp Kinh 9A, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Huỳnh T , sinh năm 1974 và bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1977. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (bị cáo có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Huỳnh T , sinh năm 1974 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Kinh 9A, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

* Người chứng kiến:

Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1993 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 31/12/2024, tại khu vực cầu Đòn Dông Kinh 9 thuộc khu phố Kinh 9, thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt quả tang Huỳnh Anh T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Kiểm tra thu giữ trong túi quần T đang mặc 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín, kích thước 3,5 cm x 01 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể không đồng nhất nghi là chất ma tuý; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12 màu xanh; số IMEI 1: 864036048292915; số IMEI 2: 86403604829297; 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đỏ số IMEI 1: 863693053331342; Số IMEI 2: 863693053331359; Tiền Việt Nam: 300.000 đồng; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future 125 màu đen, biển số 68T1-46059; 01 (một) chiếc xe mô tô màu đen, biển số 68T1-06327.

Quá trình điều tra xác định, Huỳnh Anh T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2022, nhưng không thường xuyên. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 18 giờ ngày 30/12/2024, T sử dụng điện thoại số 0832461677 liên hệ qua mạng xã hội Zalo với một đối tượng tên Duy (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) để hỏi mua ma tuý thì Duy đồng ý bán. Duy hẹn T đến chợ Kinh 6 thuộc ấp Đông Lộc, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang để giao ma tuý, sau đó T điều khiển xe mô tô Future 125 màu đen, biển số 68T1-460.59 (đây là xe của ông Huỳnh T – cha ruột của T , ông Huỳnh T không biết việc T dùng xe này đi mua ma tuý) đến chợ Kinh 6 để lấy ma tuý, tại đây T đưa cho Duy số tiền 300.000 đồng và Duy đưa cho T 01 đoạn ống nhựa được hàn kín bên trong chứa ma tuý. Sau khi mua ma tuý xong, T đem về nhà sử dụng 01 lần, số ma tuý còn lại T cất giấu trong gói thuốc lá hiệu JET và để trong túi quần. Đến khoảng 16 giờ ngày 31/12/2024, T đang ở nhà thì có Nguyễn Ngọc L (là bạn xã hội của T ) gọi điện thoại nhờ T mang xăng đến cầu Đòn Dong Kinh 9 thuộc khu phố Kinh 9, thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang do xe L bị hết xăng, lúc này T điều khiển xe Future 125 màu đen, biển số 68T1-460.59 đến chỗ L thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật.

Sau khi bắt quả tang T , lực lượng chức năng T hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại số nhà 31, tổ 1, ấp Kinh 9A, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang thu giữ 01 (một) chai nhựa trong suốt phía trên có nắp màu đỏ, bên trên nắp gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, chiều dài 09 cm; 01 (một) bật lửa tự chế bằng nhựa, có gắn 01 đoạn lò so, tổng chiều dài 9,5 cm. Theo lời khai của T , đây là các dụng cụ T dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 11/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Huỳnh Anh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ và niêm phong các vật chứng gồm:

- 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín, kích thước 3,5 cm x 01 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể không đồng nhất nghi là chất ma tuý;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12 màu xanh; số IMEI 1: 864036048292915; số IMEI 2: 86403604829297;

- 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET màu trắng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đỏ số IMEI 1: 863693053331342; Số IMEI 2: 863693053331359;

- Tiền Việt Nam: 300.000 đồng;

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future 125 màu đen, biển số 68T1-460.59;

- 01 (một) chiếc xe mô tô màu đen, biển số 68T1-063.27;

- 01 (một) chai nhựa trong suốt phía trên có nắp màu đỏ, bên trên nắp gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh là dụng cụ để sử dụng ma tuý;

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, chiều dài 09 cm;

- 01 (một) bật lửa tự chế bằng nhựa, có gắn 01 đoạn lò so, tổng chiều dài 9,5 cm.

* Kết luận giám định số: 68/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1783 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Cáo trạng số 08/CT-VKSTH ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Huỳnh Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên xử bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Anh T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Xử lý vật chứng: Đối với vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu gồm:

Trả lại cho Nguyễn Ngọc L: 01 (một) chiếc xe mô tô màu đen, biển số 68T1-06327; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đỏ số IMEI 1: 863693053331342; Số IMEI 2: 863693053331359; Tiền Việt Nam: 300.000 đồng.

Trả lại cho ông Huỳnh T 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future 125 màu đen, biển số 68T1-46059. Qua xác minh, chiếc xe mô tô này là của ông Huỳnh T (cha ruột của T ) đăng ký chủ sở hữu.

Theo các Quyết định xử lý vật chứng số 120 ngày 12/02/2025 và số 133 ngày 14/02/2025 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T .

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án gồm:

+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, chiều dài 09 cm;

+ 01 (một) bật lửa tự chế bằng nhựa, có gắn 01 đoạn lò so, tổng chiều dài 9,5 cm;

+ 01 (một) chai nhựa trong suốt phía trên có nắp màu đỏ, bên trên nắp gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh là dụng cụ để sử dụng ma tuý;

+ 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET màu trắng;

+ 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín kích thước 3,5 x 01cm bên trong có chứa các hạt tinh thể là ma tuý. Được niêm phong.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12 màu xanh; số IMEI 1: 864036048292915; số IMEI 2: 86403604829297 là điện thoại T dùng để liên lạc mua ma tuý. Theo lệnh nhập kho vật chứng số 32 ngày 12/02/2025 và số 35 ngày 14/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T .

Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình và hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 16 giờ 45 phút, ngày 31/12/2024, tại khu vực cầu Đòn Dông Kinh 9 thuộc khu phố Kinh 9, thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt quả tang Huỳnh Anh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kiểm tra thu giữ trong túi quần T đang mặc 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín, kích thước 3,5 cm x 01 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể không đồng nhất, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,1783 gam, nhằm mục đích sử dụng.

Theo kết luận giám định số 68/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1783 gam.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra cho thấy bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện đặc biệt nguy hiểm, tàn phá sức khỏe của người sử dụng và làm suy giảm giống nòi, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Dù không nhằm mục đích vụ lợi, nhưng vì muốn được thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật và hậu quả mua ma túy về tàng trữ sử dụng một cách trái pháp luật.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, chiều dài 09 cm; 01 (một) bật lửa tự chế bằng nhựa, có gắn 01 đoạn lò so, tổng chiều dài 9,5 cm; 01 (một) chai nhựa trong suốt phía trên có nắp màu đỏ, bên trên nắp gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh là dụng cụ để sử dụng ma tuý; 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín kích thước 3,5 x 01cm bên trong có chứa các hạt tinh thể là ma tuý. Được niêm phong.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12 màu xanh; số IMEI 1: 864036048292915; số IMEI 2: 86403604829297 là điện thoại bị cáo T dùng để liên lạc mua ma tuý.

Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Nguyễn Ngọc L: 01 (một) chiếc xe mô tô màu đen, biển số 68T1-06327; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đỏ số IMEI 1: 863693053331342; Số IMEI 2: 863693053331359; Tiền Việt Nam: 300.000 đồng.

Trả lại cho ông Huỳnh T 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future 125 màu đen, biển số 68T1-46059. Theo các Quyết định xử lý vật chứng số 120 ngày 12/02/2025 và số 133 ngày 14/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T .

Đối với người đàn ông tên Duy đã bán ma túy cho bị can. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh làm rõ tuy nhiên chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi tàng trữ 01 (một) chai nhựa trong suốt phía trên có nắp màu đỏ, bên trên nắp gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh của Huỳnh Anh T chưa đủ định lượng để xử lý về tội tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Anh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, chiều dài 09 cm; 01 (một) bật lửa tự chế bằng nhựa, có gắn 01 đoạn lò so, tổng chiều dài 9,5 cm; 01 (một) chai nhựa trong suốt phía trên có nắp màu đỏ, bên trên nắp gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh là dụng cụ để sử dụng ma tuý; 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa được hàn kín kích thước 3,5 x 01cm bên trong có chứa các hạt tinh thể là ma tuý, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu vụ số 33/2025.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12 màu xanh; số IMEI 1: 864036048292915; số IMEI 2: 86403604829297 là điện thoại bị cáo T dùng để liên lạc mua ma tuý.

Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSTH ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Anh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ