- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn Huấn tội Lừa đảo và đánh bạc - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 174 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HS -ST Ngày: 22-4-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Thanh Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lê
Ông Ma Thanh Khỏe
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thùy Diệu - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Nông Văn H, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 16/12/2001, tại T, Cao Bằng.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn Ơ, sinh năm 1967 và bà Phương Thị L, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con út; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N từ ngày 17/12/2024 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Tô Duy T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Xóm Đ, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ, ngày 16/12/2024, Công an xã M, huyện N tiếp nhận tố giác của ông Tô Duy T (sinh năm 1996 trú tại xóm Đ, xã M, huyện N) về việc bị lừa đảo số tiền 2.000.000 đồng trên không gian mạng do đặt mua cây địa lan. Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện N đã tiến hành xác minh, xác định đối tượng Nông Văn H (sinh năm 2001 trú tại xóm C, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng) lừa đảo số tiền trên nên đã bắt giữ H và tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A7 của H (điện thoại cũ đã qua sử dụng)
Ngày 17/12/2024, tiến hành kiểm tra điện thoại của H phát hiện: Tài khoản MB: 9704229203895223272 có số dư: 1.000.500đ; mục biến động số dư, thời gian 07 giờ 30 phút, ngày 06/12/2024 " + 2.000.000", nội dung " GD nhan tien 527628 QR TO DUY THANG Chuyen tien coc dia lan". Kiểm tra thông tin trong ứng dụng Messenger không có tin nhắn với Tô Duy T (Nông Văn H khai đã xoá đoạn hội thoại trên ứng dụng Messenger với " Duy Thăng"). Ngoài ra phát hiện Nông Văn H còn thực hiện hành vi đánh bạc trên không gian mạng bằng hình thức chơi "Tài xỉu" thông qua ứng dụng có tên "VN123". Huấn tải ứng dụng từ trang web có địa chỉ: "https://www.vn123.cc" tạo và đăng ký tài khoản có tên đăng nhập "nonghuan2002", mật khẩu: "07022002nn", ("số dư" 0 đồng) để đăng nhập vào ứng dụng. Sau khi đăng nhập đã thực hiện hành vi đánh bạc thông qua trò chơi "Tài xỉu". Huấn liên kết ứng dụng "VN123" với tài khoản MB (N) của H, số tài khoản: 9704229203895223272, để nạp và rút tiền đánh bạc trên ứng dụng.
Quá trình điều tra, Nông Văn H khai nhận: Tối ngày 05/12/2024, Tô Duy T đăng nhập tài khoản Facebook " Tô Thăng" có đăng một bài viết vào nhóm Facebook Trà Lĩnh Quê Tôi với nội dung "Mình cần mua sll cây lan đất này giá 70kg/kg ai có LH 086533365437mG" và kèm theo vài ảnh mẫu cây với mục đích tìm mua cây địa lan về trồng. Huấn đọc được nên có ý định lừa đảo để lấy tiền, nên đã vào bình luận bài viết của T và gửi kèm hình ảnh cây địa lan. Thăng tưởng Huấn bán nên sáng hôm sau, ngày 06/12/2024 đã gọi điện cho H qua ứng dụng Messenger để hỏi mua cây địa lan, H nói " bản thân hiện có 60kg cây", hai bên trao đổi thống nhất giá là 70.000đ/kg, H đã yêu cầu T chuyển tiền cọc trước với số tiền 2.000.000 đồng , T đồng ý chuyển tiền cọc. Huấn gửi cho T ảnh mã QR tài khoản ngân hàng của H số tài khoản: 9704229203895223272. Khoảng 08 giờ cùng ngày T chuyển khoản cho H 2.000.000 đồng từ tài khoảnVietinbank số 1088 7556 4509. Ngay sau khi nhận được tiền H chặn tài khoản Facebook, Messenger của T, sau khi không liên lạc được T phát hiện bản thân đã bị lừa nên đã trình báo. H dùng tiền mua ma tuý về sử dụng và chi tiêu cá nhân hết.
Trong khoảng thời gian từ 02 giờ đến 04 giờ, ngày 16/12/2024 H dùng điện thoại của mình đánh bạc qua mạng với trò chơi "Tài xỉu", số tiền đặt cược đánh bạc là 4.098.258đ, số tiền thắng là 2.958.120đ. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 7.056.378đ. Quá trình đánh bạc H dùng tài khoản 9704229 nạp tiền vào tài khoản đánh bac 04 lần với số tiền 580.000đ. Về cách thức nạp, rút tiền: Huấn sẽ vào ứng dụng, phần cá nhân, bấm vào lệnh nạp tiền, chọn hình thức nạp qua QRcode, và nhập số tiền, sau đó nhà cái sẽ tạo một giao dịch QRcode, H lưu QRcode về máy rồi vào ứng dụng ngân hàng M để quét QRcode rồi chuyển tiền. Khoảng một lúc sau tiền từ tài khoản ngân hàng sẽ được chuyển thành tiền trên tài khoản đánh bạc để cá cược. Quy ước đổi tiền là nạp số tiền bao nhiêu thì tài khoản của ứng dụng sẽ có số tiền tương ứng (tỷ lệ 1-1). Khi cần rút tiền trên tài khoản “nonghuan2002” thì H bấm vào lệnh rút tiền trên “nonghuan2002”, nhập số tiền muốn rút và mật khẩu rút tiền, rồi đợi khoảng vài phút sau thì tiền từ tài khoản đánh bạc sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng của H. Tổng số tiền H rút về tài khoản 300.000đ. Tại cơ quan điều tra, H thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với các chứng cứ thu giữ được. Ngày 24/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện đã gửi Công văn số 329/CV-CSĐT đến Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Cao B để xác định về tính hợp pháp của trang website “http://www.vn123.cc”.Tại Công văn trả lời số 32 ngày 06/01/2025 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh C xác định trang website trên là tên miền quốc tế, không được cấp và quản lý bởi các tổ chức đăng ký tên miền tại Việt Nam. Ngày 05/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã gửi Công văn số 84/CV-CSĐT đến Ngân hàng M - Chi nhánh tỉnh C để yêu cầu sao kê lịch sử giao dịch có kèm các số tài khoản đối ứng, thời gian từ ngày 12/12/2024 đến ngày 17/12/2024 tại tài khoản của Nông Văn H, đến hết thời hạn điều tra vụ án vẫn chưa nhận được kết quả. Ngày 14/2/2025 gia đình Nông Văn H đã trả lại số tiền 2.000.000đ khắc phục hậu quả cho Tô Duy T tại xóm Đ, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Đồng thời Tô Duy T có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nông Văn H. Về vật chứng, tài sản tạm giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng (đã qua sử dụng) đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo đúng quy định (có biên bản kèm theo).
Hành vi của Nông Văn H đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSNB ngày 10 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Văn H về tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Nông Văn H thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo.
Bị hại Tô Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa có đơn trình bày: Tôi đã được gia đình bị hại bồi thường toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt, nay không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Ngoài ra, kính mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nông Văn H về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội“Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
+ Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm c khoản 2 Điều 321; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 06-09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 36 – 40 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Truy thu số tiền 300.000 đồng do bị cáo Nông Văn H thu lợi bất chính.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nông Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nông Văn H không có ý kiến tranh luận đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn H không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và tình tiết định khung của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nông Văn H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án như: Lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại; biên bản kiểm tra điện thoại. Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 05/12/2024, bị cáo Nông Văn H có hành vi gian dối trên mạng xã hội Facebook, đưa ra thông tin giả rằng có cây địa lan bán, mục đích để lừa đảo chiếm đoạt tiền đặt cọc, ông Tô Duy T, qua trao đổi tin tưởng và đã chuyển tiền 2.000.000đ để đặt cọc mua hoa địa lan của H, sau khi chiếm đoạt được tiền H đã chặn liên lạc với T sử dụng hết số tiền trên. Ngoài ra ngày 16/12/2024 Nông Văn H có hành vi sử dụng điện thoại di động để đánh bạc trên không gian mạng qua phần mềm “VN123”. H đã nạp 04 lần với tổng số tiền 580.000đ, số tiền đặt cược 4.098.258đ, số tiền thắng là 2.958.120đ. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 7.056.378đ. Hành vi của bị cáo Nông Văn H đủ cấu thành tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố bị cáo Nông Văn H về tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị:
- Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm c khoản 2 Điều 321; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 06-09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 36 – 40 tháng tù về tội “Đánh bạc” và truy thu số tiền thu lợi bất chính.
Hội đồng xét xử nhận thấy, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo nghiện ma túy.
- Về tình tiết tăng nặng: Không
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả; ngoài ra bị hại có yêu cầu HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về quyết định hình phạt
- Hình phạt chính: Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình nhưng vẫn cố tình thực hiện. Từ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ khả năng răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Truy thu số tiền 300.000 đồng do bị cáo Nông Văn H thu lợi bất chính.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO A7 màu vàng đồng, đã niêm phong trong phong bì mặt trước ghi “Điện thoại di động của Nông Văn H; SN 2001 HKTT xóm Cô T, xã Q, h. T, tỉnh Cao Bằng” mặt sau có các chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng. Đây là chiếc điện thoại của bị cáo liên quan đến hành vi đánh bạc nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
Các nhận định khác:
Đối với các đối tượng điều hành trang web đánh bạc và các đối tượng đứng tên tài khoản ngân hàng đối ứng với Nông Văn H trong các giao dịch đánh bạc, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng chưa có kết quả. Hiện nay đang tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nông Văn H 06 (Sáu) tháng tù tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nông Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nông Văn H phải chấp hành hình phạt của cả hai tội là 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 17/12/2024.
Truy thu số tiền 300.000 đồng do bị cáo Nông Văn H thu lợi bất chính.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO A7 màu vàng đồng, đã niêm phong trong phong bì mặt trước ghi “Điện thoại di động của Nông Văn H; SN 2001 HKTT xóm Cô T, xã Q, h. T, tỉnh Cao Bằng” mặt sau có các chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.
(Số vật chứng này hiện đang ở Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12 ngày 26/02/2025)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thìngười phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hànhán hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 7,9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo quyền kháng cáo cho bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Tô Duy T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện; - Phân trại tạm giữ; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; - Bị hại - Lưu HS; - Lưu AV. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Thị Tuyết Ma Thanh Khỏe | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nông Thanh Chuyên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thanh Chuyên |