- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng Thị H ly hôn anh Đỗ Văn S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị H về việc
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ H ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HNST Ngày 22-08-2025 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Khoe
Bà Ngô Thị Thúy Hảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố H tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 08 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11,
Thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 285/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 05 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24-07-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08-08-2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh ngày 01-01-1986 - Căn cước công
dân số xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28-06-2021.
Địa chỉ: Số F T, phường V, Thành phố H (cũ phường E, thành phố V,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Đỗ Văn S, sinh ngày 01-01-1982 - Căn cước công dân số
xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25-01-2022.
Địa chỉ: Số F T, phường V, Thành phố H (cũ phường E, thành phố V,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị
Đặng Thị H trình bày:
Chị và anh Đỗ Văn S tự nguyện tìm hiểu, tổ chức đám cưới và sinh
một con vào 2010, sau đó mới đăng ký kết hôn ngày 16-05-2011 tại Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Giấy chứng nhận kết hôn số 53, quyển số 01/2011 ngày 16-05-2011). Chị và anh S chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính mâu thuẫn vợ chồng là vì anh S thường xuyên đi làm biển xa, khoảng nửa năm mới về nhà một lần nhưng không phụ tiền cho vợ nuôi con, không có trách nhiệm xây dựng hạnh phúc gia đình, mỗi lần đi biển về chỉ tụ tập đánh đề, cờ bạc, nhậu nhẹt. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.
Về con chung: Chị H xác định vợ chồng chị có hai con chung Đỗ Thị
Mỹ X, sinh ngày 01-09-2010 và Đỗ Văn T, sinh ngày 27-07-2012. Chị H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp
pháp các văn bản theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đối với bị đơn anh Đỗ Văn S, để anh S thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Nhưng anh S không đến Tòa án làm việc, vắng mặt theo các giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do chính đáng, anh S cũng không thể hiện ý kiến và yêu cầu gì gửi đến Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án tham gia tố tụng đầy đủ, đúng quy định pháp luật, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn mặc dù đã được tống đạt hợp pháp nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa sơ thẩm mà không có lý do chính đáng, nên việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã
được thẩm tra lại tại phiên tòa, xác định chị H và anh S trong quan hệ hôn nhân đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng; vợ chồng anh chị không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh S.
Về con chung: Xem xét thấy yêu cầu của chị H có căn cứ pháp luật và
phù hợp với nguyện vọng của con, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận các yêu cầu của chị H được quyền trực tiếp nuôi hai con chung Đỗ Thị Mỹ X và Đỗ Văn T. Chị H không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết
nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được
thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố H. Hội đồng xét xử nhận định:
. Căn cứ các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; xác định vụ án
tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố H.
. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn, bị đơn không có yêu cầu
phản tố, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân của chị H và anh S là hợp
pháp, đúng qui định pháp luật. Quá trình chung sống, giữa chị H và anh S đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên không còn tình cảm dành cho nhau. Biên bản xác minh tại địa phương xác nhận việc chị H và anh S trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Xét thấy nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh S như chị H trình bày là đúng sự thật, có căn cứ xác định hôn nhân của chị H và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu xin ly hôn của chị H có căn cứ pháp luật, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh S.
. Về con chung: Chị H và anh S có hai con chung Đỗ Thị Mỹ X,
sinh ngày 01-09-2010 và Đỗ Văn T, sinh ngày 27-07-2012.
Xét chị H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là
có căn cứ pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của con, nên yêu cầu này của chị H được chấp nhận. Hội đồng xét xử quyết định chị H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Đỗ Thị Mỹ X và Đỗ Văn T. Chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên anh S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu xem xét,
nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H đồng ý nộp toàn
bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các
Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị H về việc
ly hôn với anh Đỗ Văn S.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được quyền ly hôn với anh
Đỗ Văn S.
3. Về con chung: Chị Đặng Thị H và anh Đỗ Văn S có hai con chung
Đỗ Thị Mỹ X, sinh ngày 01-09-2010 và Đỗ Văn T, sinh ngày 27-07-2012.
- Chị Đặng Thị H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục hai con Đỗ Thị Mỹ X và Đỗ Văn T.
- Anh Đỗ Văn S có quyền và nghĩa vụ đến thăm, chăm sóc, giáo dục
con chung; không ai được cản trở anh S thực hiện quyền và nghĩa vụ này.
- Anh Đỗ Văn S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá
nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu xem
xét, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
5. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn
đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003026 ngày 13-05-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu (mới Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 - Thành phố H). Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. H; - VKSND Khu vực 11 - TP.HCM; - Phòng THADS Khu vực 11 - TP.HCM; - UBND phường Vũng Tàu, TP. HCM; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thanh Hảo |