- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Điệp Thị Bé - Nguyễn Văn Tiến"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Điệp Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày 22 - 4 - 2025 “V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành
Bà Vũ Thị Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 132/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2024 về việc: "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Điệp Thị B, sinh năm 1994; nơi thường trú: thôn Đ, xã B, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; nơi thường trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Điệp Thị B trình bày:
Về tình cảm: chị Điệp Thị B và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 20/6/2017. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc tại khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh, cãi, chửi nhau. Cả hai đã ly thân từ tháng 2 năm 2022, không còn quan tâm đến nhau. Ngày 18/6/2023, anh T bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nay anh T đã chấp hành xong bản án và trở về địa phương. Xét thấy mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, chị đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: chị Điệp Thị B và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/6/2017. Hiện nay cháu Phương A đang được chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Quan điểm về con chung sau ly hôn của chị B: chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng con chung.
Về tài sản chung, khoản nợ chung: chị B trình bày chị và anh T không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn T mặc dù đã được Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập nhiều lần, nhưng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị B, cũng không đến Tòa án để làm việc, không có quan điểm giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng đối với anh Nguyễn Văn T theo quy định pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại nơi cư trú của anh T và chị B, ông Lê Sỹ Đ - Trưởng khu phố B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cho biết: chị Điệp Thị B và anh Nguyễn Văn T được tự do tìm hiểu, kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/6/2017 tại UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn chị B và anh T chung sống với nhau tại khu phố B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình chung sống địa phương có nắm được thông tin vợ chồng chị B và anh T chung sống hạnh phúc một thời gian đến thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Hiện nay chị B và anh T đã sống ly thân, chị B và con gái đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ của chị B sinh sống. Chị B yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, địa phương có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: chị Điệp Thị B và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/6/2017. Nếu chị B và anh T không về đoàn tụ được thì đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật cũng như điều kiện thực tế của các bên để giao con cho người có đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Về tài sản chung và công nợ chung của chị Điệp Thị B và anh Nguyễn Văn T địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại văn bản ghi nhận ý kiến đối với cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/6/2017, cháu Phương A có nguyện vọng muốn được ở cùng với mẹ là chị Điệp Thị B.
Nguyên đơn là chị Điệp Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Văn T và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung; chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng con chung; không yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung. Anh Nguyễn Văn T được triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có quan điểm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn: trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tòa án làm việc, chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn. Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay, tuy nhiên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Điệp Thị B: cho chị B được ly hôn anh Nguyễn Văn T; về con chung: giao con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/6/2017 cho chị Điệp Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), anh Nguyễn Văn T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng con chung; về tài sản chung và nợ chung: không đề cập; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Điệp Thị B khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn T; anh T có nơi thường trú tại thị xã Q, nên căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Nguyễn Văn T nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Ngày 21/3/2025, nguyên đơn là chị Điệp Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: chị Điệp Thị B và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 20/6/2017 tại UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị sống cùng nhau tại khu phố B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Về cuộc sống hôn nhân: giữa chị B và anh T có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, hiện tại hai người đã sống ly thân. Mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, không thể hòa giải được, vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu chăm sóc lẫn nhau.
Lời khai của chị Điệp Thị B phù hợp với biên bản xác minh tại khu phố nơi anh T và chị B cư trú về mâu thuẫn vợ chồng. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc của tòa án nhiều lần nhưng anh T vẫn cố tình trốn tránh không đến làm việc và hòa giải, không trình bày quan điểm gì. Điều này thể hiện anh T cũng không có mong muốn hòa giải đoàn tụ, không có nguyện vọng để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.
Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ khẳng định tình trạng hôn nhân của chị B và anh T đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Điệp Thị B, cho chị B được ly hôn anh T là phù hợp với theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
2.2 Về con chung: chị Điệp Thị B và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/6/2017. Hiện nay cháu Phương A đã được chị B đưa về nuôi dưỡng.
Quan điểm về con chung sau ly hôn của chị B: chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng con chung.
Anh Nguyễn Văn T vắng mặt, không có quan điểm về con chung.
Hội đồng xét xử thấy: Quan điểm của chị B là phù hợp với nguyện vọng của con chung và quy định của pháp luật; anh T hiện vắng mặt, không có quan điểm, nên chấp nhận yêu cầu về con chung của chị B.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: chị Điệp Thị B trình bày là không có, nên không xét. Do anh Nguyễn Văn T không tham gia tố tụng, nên anh T có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác về tài sản chung, khi có yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn chị Điệp Thị B có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Điệp Thị B.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Điệp Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: giao con chung Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/6/2017 cho chị Điệp Thị B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi); anh Nguyễn Văn T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con chung làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí: chị Điệp Thị B có nghĩa vụ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị B đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số: 0002810 ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tx. Quảng Yên; - Chi cục THADS tx. Quảng Yên; - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh; - UBND P. Phong Cốc; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Huy |