- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Cư Dế xin ly hôn chị Thào Pàn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa anh Cư D và chị Thào P là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 6 - 2025 V/v “Không công nhận quan hệ vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tống Duy Toán.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Long Văn Hoàng.
2. Ông Vương Đức Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Giàng Mạnh Vàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2025 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Cư D, năm sinh 1976.
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện M, tỉnh Lào Cai - Có ý kiến đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Thào P, năm sinh 1977.
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện M, tỉnh Lào Cai - Có ý kiến đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Cư D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị P về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, anh chị được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của người Mông. Do không hiểu biết pháp luật nên khi anh D đủ tuổi thì anh chị vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi về chung sống thì cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và anh chị sinh được ba người con. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống hàng ngày, trong việc làm kinh tế gia đình cũng như việc nuôi dạy con. Anh chị đã ly thân nhau từ năm 2023, không ai quan tâm đến ai cả về mặt tình cảm cũng như về kinh tế. Nay anh D xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng kéo dài, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy, anh D đề nghị Toà án giải quyết không công nhận quan hệ giữa anh D và chị P là vợ chồng.
- Về con chung: Anh D và chị P chỉ có ba người con chung là cháu Cư S, sinh ngày 21/7/1996, cháu Cư C, sinh ngày 03/4/1999 và cháu Cư Thị L, sinh ngày 02/9/2002. Nay cháu S, cháu C và cháu L đã đủ 18 tuổi, nên anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đề nghị của bị đơn: Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 23/5/2025 và những lời trình bày tiếp theo, bị đơn chị Thào P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị P nhất trí với anh D đã trình bày về thời gian chung sống, việc tổ chức cưới hỏi, nguyên nhân mâu thuẫn của anh D và chị P. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng chị đã không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng kéo dài, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình, nay anh D yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị P và anh D thì chị P cũng đồng ý.
- Về con chung: Cháu Cư S, cháu Cư C và cháu Cư Thị L đều đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), nên chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
3.1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định tại các Điều 97, 98, 207, 208, 209, 210, 211, 220 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại Điều 49, 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3.2. Về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình: Áp dụng khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử, xử theo hướng:
- Không công nhận quan hệ giữa anh Cư D và chị Thào P là quan hệ vợ chồng.
- Về con, tài sản và khoản nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
- Căn cứ khoản 5 Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 tuyên về án phí theo quy định.
- Tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
3.3. Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Đơn khởi kiện của anh D thuộc thẩm quyền giải của Tòa án nhân dân huyện Mường Khương theo quy định tại khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án nguyên đơn và bị đơn đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự và chấp hành đúng các quy định của pháp luật về khởi kiện, thụ lý vụ án, thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử. Sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị P về chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền là vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với vụ án này Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải về mối quan hệ hôn nhân của anh D và chị P, việc anh D đề nghị Toà án giải quyết không công nhận quan hệ giữa anh D và chị P là vợ chồng là có căn cứ và được Tòa án xem xét giải quyết. Nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ giữa anh D và chị P là vợ chồng.
Về con chung: Trong thời gian anh D và chị P chung sống với nhau chỉ có ba người con chung là cháu Cư S, sinh ngày 21/7/1996, cháu Cư C, sinh ngày 03/4/1999 và cháu Cư Thị L, sinh ngày 02/9/2002. Hiện nay cháu S, cháu C và cháu L đều đã đủ 18 tuổi, cả anh D và chị P đều không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với cháu S, cháu C và cháu L, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh D đã nộp đơn đề nghị Tòa án miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí hôn nhân gia đình và cung cấp văn bản xác nhận anh D là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Xét đề nghị của anh D là có căn cứ, phù hợp với khoản 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1,5,6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1,5,6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa anh Cư D và chị Thào P là vợ chồng.
2. Về án phí sơ thẩm: Anh Cư D được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự (2); - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Mường Khương (2); - CCTHADS huyện Mường Khương; - Lưu: HS, THS (3). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Tống Duy Toán |