- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 6 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngọc.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Việt;
2. Ông Trần Văn Chiu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cầm Thị T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Buôn B, xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Buôn B, xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cầm Thị T trình bày:
Chị Cầm Thị T kết hôn với anh Nguyễn Văn D vào ngày 08/10/2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, việc chị kết hôn với anh D là hoàn toàn tự nguyện. Chị và anh D chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh D có quan hệ ngoại tình, không quan tâm đến gia đình, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng.
Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vì vậy chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lắk giải quyết cho chị ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị T và anh D có 02 con chung là Nguyễn Triệu N, sinh ngày 05/11/2016 và Nguyễn Hữu A, sinh ngày 26/02/2018. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con và yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng cho mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:
Anh Dũng thống nhất với lời trình bày của chị T về quan hệ hôn nhân, con chung và không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung của anh và chị T. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh thì anh không đồng ý, anh muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi con. Nếu chị T cương quyết ly hôn với anh, anh yêu cầu được nuôi con Nguyễn Triệu N, giao con Nguyễn Hữu A cho chị T nuôi. Anh, chị không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và về việc giải quyết vụ án:
-Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự đúng quy định của pháp luật.
-Về chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự.
-Về giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 56, 81 của Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Cầm Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Giao các con Nguyễn Triệu N và Nguyễn Hữu A cho chị T trực tiếp nuôi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Dũng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con, với mức cấp dưỡng đối với mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Cầm Thị T khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn D, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng. Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng”. Bị đơn anh Nguyễn Văn D cư trú tại: Xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
Về yêu cầu của đương sự:
Đối với yêu cầu ly hôn của chị Cầm Thị T: Chị T và anh Nguyễn Văn D kết hôn với nhau ngày 08/10/2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị T và anh D chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh D có quan hệ ngoại tình, không chăm lo cuộc sống gia đình, thường xuyên vắng nhà. Qua xác minh tại thôn B, xã N, huyện L, nơi chị T, anh D cư trú, thể hiện vợ chồng chị T, anh D xảy ra mâu thuẫn từ cuối năm 2022 cho đến nay, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh D, chi T kéo dài, trầm trọng và không thể khắc phục được.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị T và anh D không còn tình cảm, thương yêu, tôn trọng nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn anh D là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Đối với yêu cầu về nuôi con chung và cấp dưỡng: Chị T và anh D có 02 con chung là Nguyễn Triệu N, sinh ngày 05/11/2016 và Nguyễn Hữu A, sing ngày 26/02/2018. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con và yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng cho mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng.
Xét điều kiện, hoàn cảnh của anh D và chị T, từ trước đến nay chị T là người trực tiếp chăm lo cho các con, các con của chị T và anh D đang còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, đảm bảo cho các con của chị T và anh D có nơi ở, sinh hoạt, học tập ổn định, cũng như nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao các con Nguyễn Triệu N và Nguyễn Hữu A cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử xét thấy anh D là công chức địa chính xã N, huyện L, có công việc và thu nhập ổn định, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, cũng như nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng và mức cấp dưỡng cho con của chị T, buộc anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con với mức cấp dưỡng đối với mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng.
Anh Dũng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản và nợ chung: Chị T và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về án phí: Chị Cầm Thị T là người đồng bào dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình, anh Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4, khoản 5 Điều 147; khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các điều 56, 81, 82, 83, 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cầm Thị T.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cầm Thị T và anh Nguyễn Văn D.
2. Về nuôi con chung: Giao các con chung Nguyễn Triệu N, sinh ngày 05/11/2016 và Nguyễn Hữu A, sing ngày 26/02/2018 cho chị Cầm Thị T trực tiếp nuôi.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con Nguyễn Triệu N, sinh ngày 05/11/2016 và Nguyễn Hữu A, sing ngày 26/02/2018, với mức cấp dưỡng cho mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng (Hai triệu đồng một tháng), thời gian cấp dưỡng: Từ ngày 18/6/2025 (Ngày mười tám tháng sáu năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm) đến khi con đủ 18 (mười tám) tuổi.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình cho chị Cầm Thị T.
Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Lắk; - CCTHADS huyện Lắk; - UBND xã Nam Ka; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Ngọc THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |