vanban.org

Bản án 15/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Phạm Thị Thanh H được ly hôn với ông Phạm Chí D.

Về con chung: Giao con chung Phạm Hồng Bảo N, sinh ngày 08/7/2012 cho ông Phạm Chí D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Phạm Thị Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi ngườ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh H và bị đơn ông Phạm Chí D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Phạm Thị Thanh H được ly hôn với ông Phạm Chí D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – KHÁNH HOÀ
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày 03 – 9 – 2025
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hoà

Bà Lương Lê Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần Khải Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Khánh Hòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân – gia đình sơ thẩm thụ lý số: 150/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1991, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã Bắc N, tỉnh Khánh Hòa.

2. Bị đơn: Ông Phạm Chí D, sinh năm 1982, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã S, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2025, bản tự khai ngày 28/5/2025 và quá trình làm việc tại Toà án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Chí D kết hôn năm 2010, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, thị xã N (nay là UBND xã Bắc N), tỉnh Khánh Hoà. Sau khi kết hôn thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc và có 01 con chung Phạm Hồng Bảo N, sinh ngày 08/7/2012. Quá trình chung sống giữa bà và ông D phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau về mọi mặt. Từ những mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được nên bà và ông D không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Nay không thể kéo dài tình trạng hôn nhân này nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Chí D. Về con chung, sau khi ly hôn bà H đồng ý giao cháu Phạm Hồng Bảo N cho ông Phạm Chí D trực tiếp nuôi đến tuổi trưởng thành vì kể từ thời điểm bà và ông D không còn sống chung cháu N vẫn đang do ông D trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Thanh H khai không có.

* Đối với bị đơn ông Phạm Chí D: Tòa án nhân dân khu vực 3 – Khánh Hoà đã tiến hành thực hiện các thủ tục triệu tập, xác minh, tống đạt và niêm yết hợp lệ văn bản tố tụng để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông D không đến Tòa án để làm việc và cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà H nên Tòa án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Khánh Hoà, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là đúng theo quy định. Đối với bị đơn ông Phạm Chí D đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông cố tình vắng mặt tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông D là đúng theo quy định của pháp luật.

Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã thực hiện việc thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định.

Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn; Về con chung: Xét thấy con chung của bà H và ông D hiện đang do ông D trực tiếp nuôi dưỡng, cháu N cũng có đơn nguyện vọng xin được ở với cha nên đề nghị HĐXX giao con chung Phạm Hồng Bảo N cho bị đơn ông Phạm Chí D nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có nên không xét. Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Chí D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; do đó Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Khánh Hoà tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng với qui định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh H và ông Phạm Chí D kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thị xã N (nay là UBND xã Bắc N), tỉnh Khánh Hoà và đã được UBND xã cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55, ngày 09/6/2010. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, giữa bà H và ông D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Từ những mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được, bà H và ông D không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, xuất phát từ bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, việc chăm sóc, quan tâm lẫn nhau không còn, do đó mâu thuẫn giữa bà H và ông D đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy có duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thanh H đối với ông Phạm Chí D.

Về con chung: Bà Phạm Thị Thanh H và ông Phạm Chí D có 01 con chung Phạm Hồng Bảo N, sinh ngày 08/7/2012. Trong quá trình giải quyết vụ án bà H đồng ý giao con chung cho ông Phạm Chí D trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Bà không cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, theo tài liệu chứng cứ thu thập tại cơ quan có thẩm quyền: Sau khi bà ông H và ông D không còn sống chung cho đến nay, cháu Phạm Hồng Bảo N vẫn đang do ông D trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển tốt cả về tinh thần lẫn thể chất. Con chung của bà H và ông D hiện đang sống ổn định cùng ông D. Mặt khác, cháu N có nguyện vọng xin được ở với cha là ông Phạm Chí D. Điều này cũng phù hợp với ý kiến của bà H. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Phạm Hồng Bảo N, sinh ngày 08/7/2012 cho ông Phạm Chí D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thị Thanh H có ý kiến bà không cấp dưỡng nuôi con. Ông Phạm Chí D đã được Toà án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không có mặt và cũng không có văn bản trình bày đối với các yêu cầu của bà H. Do đó, Toà án căn cứ vào ý kiến của bà H và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung của bà Phạm Thị Thanh H. Quá trình nuôi con nếu gặp khó khăn ông D có quyền làm đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con để đảm bảo quyền lợi cho con chung.

Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Thanh H khai không có không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

Về nợ chung: Bà Phạm Thị Thanh H khai không có không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Phạm Thị Thanh H được ly hôn với ông Phạm Chí D.

2. Về con chung: Giao con chung Phạm Hồng Bảo N, sinh ngày 08/7/2012 cho ông Phạm Chí D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Phạm Thị Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Thanh H khai không có không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

4. Về nợ chung: Bà Phạm Thị Thanh H khai không có không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

5. Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại biên lai số 0001570 ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh. Bà Phạm Thị Thanh H đã nộp đủ án phí.

Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Thanh H, ông Phạm Chí D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ