- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA H Juo - Y Ph, TC hon nhan gia đinh"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Djuôr Ayŭn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 9 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bế Văn Toàn. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hồng Châu, bà Hà Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025, về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST - HNGĐ ngày 08/9/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị H Djuôr A, sinh năm 1996. (Có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Buôn H, xã E, tỉnh Đăk Lăk.
* Bị đơn: Anh Y Phong N, sinh năm 1994. (Vắng mặt không lý do).
Địa chỉ: Buôn H, xã E, tỉnh Đăk Lăk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị H Djuôr Ayŭn trình bày:
Tôi và anh Y Phong N tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/02/2017 tại UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi về chung sống với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn và không có tiếng nói chung, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chồng tôi bạo lực gia đình, chúng tôi đã ly thân từ năm 2024, không thể quay lại với nhau được nữa. Do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên tôi làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng tôi được ly hôn.
Về vấn đề con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Y Thị A1, sinh
ngày 22/6/2017. Hiện nay con đang ở với tôi và do tôi nuôi ăn học. Tôi đề nghị tòa án giải quyết giao con cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Y Phong N được quyền đến thăm con chung, tôi không ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Tôi không yêu cầu anh Y Phong N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Y Phong N vắng mặt, tuy nhiên quá trình giải quyết anh Y Phong N trình bày: Vợ tôi làm đơn ly hôn, hiện tại tôi chưa đồng ý ly hôn, khi nào hòa giải theo phong tục tập quán của người Ê Đê xong thì tôi mới đồng ý ly hôn. Về con chung hai vợ chồng có một con chung là Y Thị A1, sinh ngày 22/6/2017, nếu cháu Y Thị A1 muốn ở với mẹ thì tôi đồng ý giao cho mẹ cháu trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản không có.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đối với Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H Djuôr A, chị H D được ly hôn với anh Y Phong N.
+ Về con chung: Giao cháu Y Thị A1, sinh ngày 22/6/2017 cho mẹ của cháu là chị H Djuôr Ayŭn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Y Thị A1 đủ 18 tuổi.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Tại thời điểm khởi kiện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với bị đơn có nơi cư trú tại xã E, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Y Phong N lần thứ hai nhưng anh Y Phong N vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt anh Y Phong N là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Chị H Djuôr A và anh Y Phong N tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 16/02/2017 tại UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk theo đúng quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Qua lời khai của chị H Djuôr Ayŭn và biên bản xác minh tại địa phương ngày 06/8/2025 đều cho thấy trước đây anh Y Phong N và chị H Djuôr Ayun sống với nhau tại xã E, quá trình chung sống chị H Djuôr A và anh Y Phong N thường bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng ly thân được ba tháng nay, không còn sống chung với nhau nữa. Trong thời gian đó hai bên không có biện pháp nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Anh Y Phong N cũng trình bày rằng khi hòa giải tại địa phương theo phong tục của người Ê Đê xong thì đồng ý ly hôn. Do đó, việc chị H Djuôr Ayŭn xác định mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với anh Y Phong N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về con chung: Chị H Djuôr Ayŭn và anh Y Phong N có 01 con chung là cháu Y Thị A1, sinh ngày 22/6/2017. Qua lời khai của chị H Djuôr Ayŭn và Biên bản xác minh tại địa phương, cho thấy hiện nay cháu Y Thị A1, đang ở chung với chị H Djuôr Ayŭn tại xã E, do chị H Djuôr A nuôi ăn học. Quá trình giải quyết vụ án, anh Y Phong N đồng ý giao con chung cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời nguyện vọng của cháu Y Thị A1 là muốn ở chung với mẹ. Như vậy, yêu cầu được nuôi con của chị H Djuôr Ayŭn là phù hợp, cần chấp nhận yêu cầu của chị H Djuôr A, giao cháu Y Thị A1 cho chị H Djuôr Ayŭn trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Djuôr Ayŭn không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Djuôr Ayŭn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H Djuôr Ayŭn được ly hôn với anh Y Phong N.
2. Về con chung: Giao cháu Y Thị A1 cho chị H Djuôr Ayŭn trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Djuôr Ayŭn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Y Phong N có quyền đi lại thăm nom con chung, chị H Djuôr Ayŭn không được ngăn cản.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị H Djuôr Ayŭn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005027 ngày 10/7/2025 tại Phòng THADS Khu vực 3 Đắk Lắk.
4. Về kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkLắk; - VKSND Khu vực 3 Đắk Lắk; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Phòng THADS Khu vực 3; - UBND xã Ea Tul; - Nguyên đơn; bị đơn; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bế Văn Toàn |