vanban.org

Bản án 15/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về con chung: Giao con chung là cháu Vì Thị Minh T, sinh ngày 11/5/2013 và cháu Vì Thị Tâm An, sinh ngày 06/7/2021 cho bà Lò Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 15/9/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Như Lữ; ông Lường Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên;

Ngày 15 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Lò Thị T, sinh năm: 1997

Nơi cư trú: Bản Co Cưởm, xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Vì Văn K, sinh năm: 1992

Nơi cư trú: Bản Co Cưởm, xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 31/7/2025 và trong quá trình xét xử, Nguyên đơn bà Lò Thị T trình bày:

[1]. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lò Thị T và ông Vì Văn K sau một thời gian tìm hiểu nhau đã tự nguyện đến UBND xã Luân Giói, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Nay là xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên) đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 02/4/2013. Sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, ông K nghiện ma túy nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, sau nhiều lần cãi vã vợ chồng cũng đã được hai bên gia đình nội ngoại hòa giải nhưng không thành, hiện nay bà T và ông K đã ly thân từ giữa năm 2024 cho đến nay, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn. Cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Lò Thị T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vì Văn K.

[2]. Về con chung:

Đương sự có 02 con chung; cháu Vì Thị Minh T, sinh ngày 11/5/2013 và cháu Vì Thị Tâm An, sinh ngày 06/7/2021. Bà T có nguyện vọng được nuôi cả 02 cháu T, An cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Về tài sản:

Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Vì Văn K:

Toà án đã thông báo hợp lệ về việc thụ lý vụ án; được Toà án triệu tập hợp lệ đến làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ nhưng ông K vắng mặt, không nêu ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con của nguyên đơn.

Ngày 21/8/2025 Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Điện Biên ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử (xét xử vào ngày 08/9/2025), Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự, nguyên đơn bà T có mặt, bị đơn ông K vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và thông báo mở lại phiên tòa vào ngày 15/9/2025, thông báo cũng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con với bị đơn. Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên. Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của bị đơn ông Vì Văn K:

Ngày 21 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ cho ông Vì Văn K tuy nhiên đến ngày mở phiên tòa, ngày 08/9/2025 ông K không đến phiên tòa và không có đơn xin xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 233, Điều 235 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa cho ông Vì Văn K. Do đó, căn cứ vào Khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: bà T và ông K kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên hôn nhân giữa bà T và ông K là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T:

Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông K. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại bà T không còn tình cảm với ông K. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà T và ông K là tính cách không hợp nhau, ông K nghiện ma túy, không có trách nhiệm với vợ con. Chính quyền địa phương cũng xác nhận trong quá trình sống chung bà T và ông K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ giữa năm 2024 cho đến nay. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định việc bà T cho rằng hai vợ chồng không còn hạnh phúc, bà T không còn tình cảm với ông K là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa hai vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định bà T và ông K không còn tình cảm, không cùng chung sống nuôi dạy con cái, vun vén hạnh phúc gia đình. Vì vậy, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Lò Thị T, giải quyết cho bà Lò Thị T ly hôn với ông Vì Văn K.

Về con chung: Đương sự có 02 con chung; cháu Vì Thị Minh T, sinh ngày 11/5/2013 và cháu Vì Thị Tâm An, sinh ngày 06/7/2021. Bà T yêu cầu được nuôi cháu T, cháu An cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động, về cấp dưỡng nuôi con chung bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử thấy rằng trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông K không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Tòa án về quan điểm của mình, như vậy cho thấy rằng bản thân ông K tự tước bỏ các quyền đó. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại bà T có thu nhập ổn định, đang làm việc tại Công ty TNHH Công nghiệp chính xác EVA Hải Phòng (Theo bảng lương từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2025 bà T cung cấp cho Tòa án thì thấy bà có thu nhập từ 8.980.449 đồng đến 11.718.755 đồng/ tháng) là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung. HĐXX căn cứ Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Giao cháu Vì Thị Minh T và cháu Vì Thị Tâm An cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà T không yêu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên hội đồng xét xử không xem xét. Ông K có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ: bà Lò Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết, trong quá trình giải quyết vụ án ông Vì Văn K không có ý kiến gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Quá trình giải quyết vụ án bà Lò Thị T có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Tại phiên tòa bà T tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét miễn tiền án phí DSTT cho bà, bởi vì, bản thân và gia đình bà là người dân tộc Thái đang cư trú tại bản Co Cưởm, xã Luân Giói, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (Nay là bản Co Cưởm, xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên) nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, cần áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lò Thị T là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Điều 53, Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn bà Lò Thị T được ly hôn với bị đơn ông Vì Văn K.

2. Về con chung:

Giao con chung là cháu Vì Thị Minh T, sinh ngày 11/5/2013 và cháu Vì Thị Tâm An, sinh ngày 06/7/2021 cho bà Lò Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể được thay đổi theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình 2014 khi có yêu cầu.

3. Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Lò Thị T được miễn án phí DSST.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Lò Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/9/2025). Bị đơn ông Vì Văn K vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ