vanban.org

Bản án 15/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị L đối với bị đơn anh Lường Văn P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị L được ly hôn anh Lường Văn P. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị L - Lường Văn P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị L đối với bị đơn anh Lường Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29-5-2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2025/TLST-HN&GĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị L; năm sinh 1998; địa chỉ: Bản L, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lò Thị L: Bà Lê Thị D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lường Văn P, sinh năm 1993; địa chỉ: Bản L, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên - Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 18/02/2025 và bản tự khai nguyên đơn chị Lò Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị L và anh Lường Văn P kết hôn ngày 26/02/2018 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, kết hôn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, anh Lường Văn P hay ghen tuông vô cớ dẫn tới vợ chồng bất hòa hay cãi nhau. Quá trình sống chung anh chị không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, nên chị Lò Thị L và anh Lường Văn P đã sống ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, chị Lò Thị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lường Văn P.

Về con chung: Chị Lò Thị L và anh Lường Văn P có 01 con chung; cháu Lường Thị Thanh T, sinh ngày 27/9/2020, hiện tại chị Lò Thị L trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Lường Thị Thanh T, sinh ngày 27/9/2020 cho chị Lò Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Chị Lò Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lò Thị L và anh Lường Văn P, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 18/02/2025 thụ lý vụ án, đến ngày 20/02/2025 Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú và lấy lời khai của bà Lường Thị D1 (mẹ đẻ anh Lường Văn P), tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi con của anh chị, qua xác minh cho thấy: Sau khi kết hôn anh Lường Văn P và chị Lò Thị L sống tại bản Ly Xôm, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên từ năm 2018 đến năm 2024 không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, từ đầu năm 2024 đến đầu năm 2025 vợ chồng chị Lò Thị L và anh Lường Văn P đi làm công nhân ở Hà Nội do mỗi người đi làm một nơi anh Lường Văn P hay ghen tuông; một phần nữa chị Lò Thị L cho rằng anh Lường Văn P đi làm công nhân, nhưng không kiếm được tiền về chăm lo cho gia đình, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị Lò Thị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 01/2025 và anh chị cũng sống ly thân từ đó cho đến nay; chị Lò Thị L đang là người trực tiếp nuôi cháu Lường Thị Thanh T, sinh ngày 27/9/2020. Hiện tại anh Lường Văn P đang đi làm công việc phụ xây dựng ở Hà Nội, không báo địa chỉ nơi làm việc với gia đình và địa phương; nên gia đình và địa phương không nắm rõ anh Lường Văn P làm việc cụ thể ở đâu, không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh Lường Văn P. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết các văn bản tố tụng anh Lường Văn P vẫn không có mặt nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Ngày 18/4/2025, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự nhưng anh Lường Văn P vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về sự vắng mặt không có lý do của anh Lường Văn P và tiến hành niêm yết thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật. Ngày 18/4/2025 chị Lò Thị L đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 09/5/2025, Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo mở phiên tòa xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/4/2025 và đã tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật, anh Lường Văn P vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa theo luật định.

Tại phiên tòa ngày 29/5/2025, chị Lò Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện và bản tự khai. Anh Lường Văn P vắng mặt lần 2 không có lý do.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày: Chị Lò Thị L và anh Lường Văn P kết hôn ngày 26/02/2018 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, kết hôn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, anh Lường Văn P hay ghen tuông vô cớ dẫn tới vợ chồng bất hòa hay cãi nhau. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 1/2025 cho đến nay, chị Lò Thị L không còn tình cảm với anh Lường Văn P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lường Văn P. Xét thấy mâu thuẫn của chị Lò Thị L và anh Lường Văn P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên xử chị Lò Thị L được ly hôn với anh Lường Văn P. Về con chung đề nghị giao cháu Lường Thị Thanh T, sinh ngày 27/9/2020 cho chị Lò Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên và có khả năng lao động; chị Lò Thị L có thu nhập, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Đề nghị miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Lò Thị L.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thấy rằng. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong việc giải quyết vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ án kịp thời, đúng pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo không có yêu cầu, kiến nghị gì. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị L. Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lò Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các biện pháp xác minh sự vắng mặt của bị đơn nơi cư trú, tình trạng hôn nhân, tống đạt và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Lường Văn P, nhưng anh Lường Văn P vẫn không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh Lường Văn P đã tự từ bỏ các quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngày 18/4/2025 chị Lò Thị L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải lần 2, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Lò Thị L, được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lường Văn P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt chị Lò Thị L và anh Lường Văn P tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân:

Về kết hôn: Chị Lò Thị L và anh Lường Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Căn cứ vào bản sao Giấy chứng kết hôn ngày 26/02/2018 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị L và anh Lường Văn P là hôn nhân hợp pháp.

Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Chị Lò Thị L khai nguyên nhân mâu thuẫn gia đình do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, anh Lường Văn P hay ghen tuông vô cớ, dẫn tới vợ chồng bất hòa hay cãi nhau và đã sống ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay. Tại biên bản xác minh nơi cư trú và lấy lời khai của mẹ đẻ anh Lường Văn P ngày 20/02/2025 tại bản Ly Xôm, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên thể hiện, do chị Lò Thị L, anh Lường Văn P đi làm xa nhà, mỗi người đi làm một nơi anh Lường Văn P ghen tuông, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau.

Về tình trạng hôn nhân: Lời khai của chị Lò Thị L về tình trạng hôn nhân là có căn cứ phù hợp với các biên bản xác minh tình trạng hôn nhân, thực tế anh chị đã sống ly thân và trong thời gian sống ly thân không ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử nhận định chị Lò Thị L và anh Lường Văn P không còn tình cảm vợ chồng; không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị L.

Về con chung: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 16/4/2025 thể hiện, bà Lò Thị K (mẹ đẻ chị Lò Thị L) đang trực tiếp hỗ trợ chị Lò Thị L chăm sóc cháu Lường Thị Thanh T, sinh ngày 27/9/2020; chị Lò Thị L đi làm công nhân gửi tiền cho bà Lò Thị K mỗi tháng từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng để nuôi dưỡng cháu Lường Thị Thanh T; anh Lường Văn P thường xuyên đi làm thuê ở xa, không thông tin về gia đình. Xét thấy, yêu cầu nuôi con sau ly hôn của chị Lò Thị L đã đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Căn cứ theo quy định tại Điều 58, Điều 69, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Lò Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thị L và anh Lường Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Phát biểu của kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Xét thấy đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lò Thị L là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí: Chị Lò Thị L là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Căn cứ vào Điều 9, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lò Thị L được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 69, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 9, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị L đối với bị đơn anh Lường Văn P.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị L được ly hôn anh Lường Văn P.

- Về con chung:

Giao cháu Lường Thị Thanh T, sinh ngày 27/9/2020 cho chị Lò Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Chị Lò Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn chị Lò Thị L có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; anh Lường Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị Lò Thị L và anh Lường Văn P có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn; khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lò Thị L.

3. Quyền kháng cáo: Chị Lò Thị L và anh Lường Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm tại Ủy ban nhân dân xã N cư trú.

Cỡ chữ