vanban.org

Bản án 15/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Lư Văn M ly hôn chị Nguyễn Thị M.

Về con chung: Giao con chung tên Lư Nguyễn Bình A, sinh ngày 07/7/2019 cho anh Lư Văn M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Lư Nguyễn Bình A thành niên. Chị Nguyễn Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lư … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Văn M - Nguyễn Thị M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Lư Văn M ly hôn chị Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2025
V/v ly hôn và tranh chấp
nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hướng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Tâm.

Ông Nguyễn Văn Giáp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hõa phiên tòa số 09/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lư Văn M, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lư Văn M trình bày:

Anh Lư Văn M và chị Nguyễn Thị M tự nguyện kết hôn năm 2018, nhưng đến ngày 12/6/2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 9 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng không sống chung từ tháng 10 năm 2020 đến nay. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có một con chung tên Lư Nguyễn Bình A, sinh ngày 07/7/2019, hiện nay Bình A do anh M nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận.

Nay anh M yêu cầu như sau: Về hôn nhân: Anh Lư Văn M yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị M. Về con chung: Anh Lư Văn M yêu cầu nuôi con chung tên Lư Nguyễn Bình A, sinh ngày 07/7/2019 đến khi thành niên, anh M không yêu cầu chị Nguyễn Thị M cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lư Văn M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị M: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị M, chị M biết sự việc anh M yêu cầu giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn nhưng chị M không có ý kiến trình bày hay yêu cầu gì trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Giao con chung tên Lư Nguyễn Bình A, sinh ngày 07/7/2019 cho anh M nuôi dưỡng đến khi thành niên, chị M không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 19/11/2024, anh Lư Văn M khởi kiện yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị M thường trú tại ấp N, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị M vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân nhân: Anh Lư Văn M và chị Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh M và chị M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh M và chị M là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên cuộc sống không hạnh phúc và vợ chồng không sống chung từ tháng 10 năm 2020. Từ khi không sống chung đến nay chị M không gặp anh M để bàn bạc hàn gắn lại tình cảm.

Xét thấy, chị M không chủ động gặp anh M để hàn gắn tình cảm, hiện nay hôn nhân của anh M và chị M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên anh M và chị M không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy, anh M yêu cầu được ly hôn với chị M là có cơ sở và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống anh Lư Văn M và chị Nguyễn Thị M có một con chung tên Lư Nguyễn Bình A, sinh ngày 07/7/2019, do anh M đang nuôi dưỡng. Xét yêu cầu của anh Lư Văn M thống nhất nuôi con chung tên Lư Nguyễn Bình A, sinh ngày 07/7/2019 đến khi thành niên. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao Lư Nguyễn Bình A, sinh ngày 07/7/2019 cho anh Lư Văn M nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lư Văn M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lư Văn M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án hôn nhân và gia đình nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy anh Lư Văn M chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình. Chị Nguyễn Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Anh Lư Văn M ly hôn chị Nguyễn Thị M.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lư Nguyễn Bình A, sinh ngày 07/7/2019 cho anh Lư Văn M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Lư Nguyễn Bình A thành niên. Chị Nguyễn Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lư Nguyễn Bình A cho chị Nguyễn Thị M, không ai được cản trở. Chị Nguyễn Thị M không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Lư Nguyễn Bình A của anh Lư Văn M.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lư Văn M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Anh Lư Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006867 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng như vậy anh Lư Văn M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; chị Nguyễn Thị M không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Lư Văn M được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, chị Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ