vanban.org

Bản án 15/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị Mai L.

Về hôn nhân: Bà Sơn Thị Mai L được ly hôn với ông Lâm Văn Đ. Về con chung: Giao 01 con chung tên: Lâm Văn T1, sinh ngày 12/7/2017, cho bà L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Giao 01 con chung tên: Lâm Văn T, sinh ngày 24/7/2013, cho ông Đ được trực tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị Mai L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27- 03-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Danh

2. Ông Tạ Dương Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Công Nguyên – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 233/2024/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 25/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Sơn Thị Mai L, sinh năm 1985 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Lâm Văn Đ, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2024; cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Sơn Thị Mai L trình bày:

Bà và ông Đ kết hôn năm 2013, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/4/2013.

Thời gian đầu bà L và ông Đ chung sống hòa thuận, hạnh phúc, năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chổng thường xảy ra mâu thuẫn, từ đó dẫn đến không hạnh phúc, bất đồng quan điểm sống.

Từ năm 2021, đến nay vợ chồng sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai nữa.

Nay bà L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy bà L làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà L khai vợ chồng có 02 con chung tên: Lâm Văn T, sinh ngày 24/7/2013; Lâm Văn T1, sinh ngày 12/7/2017.

Khi ly hôn, bà yêu cầu xin nuôi dưỡng 01 con chung tên: Lâm Văn T1, sinh ngày 12/7/2017; và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Lâm Văn T, sinh ngày 24/7/2013; bà L đồng ý giao cho ông Đ nuôi dưỡng, bà không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà L và ông Đ khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà L và ông Đ khai không có nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Sơn Thị Mai L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn bị đơn ông Lâm Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng ông Đ đều vắng mặt; nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà và ông.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông Đ là quan hệ hợp pháp. Qua quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống, không quan tâm đến nhau, nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, được cha mẹ hai bên đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L xin ly hôn với ông Đ là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà L có nguyện vọng được nuôi 01 con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Lâm Văn T1, sinh ngày 12/7/2017; và cũng tại biên bản ghi lời khai ngày 08/01/2025 của cháu Lâm Văn T1 có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Xét thấy, ông Đ từ khi thụ lý, hòa giải cũng như tại phiên Tòa hôm nay đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày gì đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Nhưng tại biên bản ghi lời khai ngày 08/01/2025 của cháu Lâm Văn T có nguyện vọng xin được ở với cha, vì hiện tại đang sống với cha; nên Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của bà L, giao cháu: Lâm Văn T1, sinh ngày 12/7/2017, cho bà L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Giao cháu: Lâm Văn T, sinh ngày ngày 24/7/2013, cho ông Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông Đ không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Sơn Thị Mai L đối với bị đơn Lâm Văn Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, nguyên đơn Sơn Thị Mai L được ly hôn với bị đơn Lâm Văn Đ; giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên: Lâm Văn T1, sinh ngày 12/7/2017; giao cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên: Lâm Văn T, sinh ngày 24/7/2013. Nguyên đơn, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, không có; nợ chung không có.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội Đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị Mai L.

- Về hôn nhân: Bà Sơn Thị Mai L được ly hôn với ông Lâm Văn Đ.

- Về con chung: Giao 01 con chung tên: Lâm Văn T1, sinh ngày 12/7/2017, cho bà L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Giao 01 con chung tên: Lâm Văn T, sinh ngày 24/7/2013, cho ông Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L và ông Đ không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Bà Sơn Thị Mai L, ông Lâm Văn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Sơn Thị Mai L phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0005186, ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành; bà L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày Bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ