vanban.org

Bản án 15/2025/HN-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

148, Điều 306, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 71, các Điều 81,82,83, 84, 110 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quố…

* Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Phạm Đăng H về mặt hình thức. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Đình Kim Kha - Phạm Đăng Huy"
  • Tòa quyết gì? 148, Điều 306, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 71, các Điều 81,82,83, 84, 110 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quố…
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

─────────────
Bản án số: 15/2025/HN-PT
Ngày: 16/01/2025
V/v “Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
Yêu cầu hạn chế quyền thăm nom
con sau khi ly hôn; Tranh chấp về
cấp dưỡng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương

Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Văn Tuấn

2/ Ông Vũ Tùng Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị

Kim Nghĩa – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số

số 153/2024/TLPT-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về

thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Yêu cầu hạn chế quyền thăm

nom con sau khi ly hôn; Tranh chấp về cấp dưỡng”

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1007/2024/HNGĐ-ST ngày 28

tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh bị

kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6869/2024/QĐ-PT

ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa

các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Đình Kim K, sinh năm 1988 (có mặt).

Địa chỉ: Số D đường H, khu phố B, phường T, Quận M, Thành phố Hồ

Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Phạm Đăng H, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Số A đường H, tổ C, khu phố B, phường T, Quận M, Thành phố

Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Phạm Đăng H:

1/ Luật sư Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1977 (có mặt);

2/ Luật sư Đinh Ngọc A, sinh năm 1981 (vắng mặt, có yêu cầu xét xử

vắng mặt);

3/ Luật sư Dương Thị Hương T2, sinh năm 1997 (có mặt);

Luật sư của Công ty Luật T3, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí

Minh.Cùng địa chỉ: Số H đường N, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Đăng H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn bà Nguyễn Đình Kim K trình bày:

Bà và ông Phạm Đăng H ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly

hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 342/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/4/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12. Thời điểm ly hôn trẻ M và ông H đang ở quê của ông H tại Ninh Thuận, bà đồng ý giao con chung tên Phạm Đăng M, sinh ngày 21/11/2014 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng vì lúc đó nguyện vọng của con là được ở với ông H và bản thân bà đang ở tuyến đầu chống dịch Covid tại phường Tân Thới Hiệp nên bà đồng ý giao con cho ông H nuôi dưỡng. Nhưng sau khi ly hôn cho đến nay ông H sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, để con cho cha ruột của ông H (là ông Phạm Đăng H1, sinh năm 1954) nuôi dưỡng tại Ninh Thuận (địa chỉ: Số B đường N, Phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận). Bản thân bà vẫn thường xuyên thăm nom, chăm sóc con. Vì để thuận tiện thăm con bà đã chuyển công tác từ Thành phố Hồ Chí Minh về làm việc tại Ninh Thuận để có điều kiện ở gần con, chăm sóc con.

Khi phát hiện việc con bị cha bạo hành về tinh thần, ông nội bạo hành về

tinh thần lẫn thân thể, bà đã tìm cách dẫn con đi, hiện nay con đang ở với bà nhưng chưa thể rút học bạ tại Trường Tiểu học T để chuyển trường. Mặc dù bà đã có đơn trình bày hoàn cảnh gửi kèm đơn xin chuyển trường có xác nhận đồng ý tiếp nhận của trường chuyển đến nhưng Hiệu trưởng Trường Tiểu học T vẫn yêu cầu phải có Quyết định giao con chính thức hoặc tạm thời mới đồng ý thực hiện thủ tục chuyển trường.

Đồng thời, trong thời gian bà đang nộp đơn đề nghị thay đổi quyền nuôi

con (tháng 3/2024), Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12 có Quyết định số 223/QĐ-CCTHADS ngày 11/3/2024 về thi hành án theo yêu cầu căn cứ Quyết định số 342/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/4/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12. Ngày 29/3/2024, để chấp hành Quyết định số 223/QĐ-CCTHADS của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, bà đã dẫn con đến Chi cục thi hành án dân sự Quận 12 gặp ông H nhưng con gào khóc không muốn đi theo ông H, tại Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, ông H đã bộc lộ biểu hiện áp đặt đối với con trẻ, không kiểm soát được hành vi và ngôn từ. Cùng ngày 29/3/2024, Chi cục thi hành án dân sự Quận 12 đã lập biên bản tạm thời giao con cho bà nuôi dưỡng và bà cũng

đã báo với Chi cục thi hành án dân sự Quận 12 việc bà đang khởi kiện để thay

đổi quyền nuôi con. Bà đã gửi biên bản này cho Trường Tiểu học T nhưng

Trường vẫn không giải quyết cho rút học bạ. Hiện nay trẻ M vẫn được đi học

đầy đủ, trẻ đã hoàn thành xong chương trình học lớp 4 tại trường tiểu học Đức

Thuận, đạt danh hiệu: Học sinh tiêu biểu hoàn thành tốt trong học tập và rèn

luyện năm học 2023-2024.

Nay bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Phạm Đăng M

và yêu cầu Tòa tạm thời hạn chế quyền thăm con của ông Phạm Đăng H để đảm

bảo tâm lý cho con vì các lý do sau:

- Ông Phạm Đăng H1, ông nội của cháu Minh đã 70 tuổi, bị bệnh tim,

tiểu đường, cao huyết áp,... phải uống thuốc hằng ngày, sức khỏe không đảm

bảo để chăm sóc cháu; thường xuyên to tiếng, lời lẽ thô lỗ, có hành vi đánh đập

một cách bạo lực với cháu.

- Ông H luôn dạy con ghét mẹ khiến con phải chịu đựng áp lực tâm lý;

Không tuân thủ Quyết định của Tòa về quyền thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc

con của cả cha và mẹ, tự cho mình quyền cho phép, cấm cản khi bà thăm nom,

chăm sóc con; Không trao đổi, thông tin với bà về tình hình của con, nhất là lúc

con bệnh. Con mới học lớp 4 nhưng đã chuyển trường cho con đến 3 lần và cả 3

lần đều không nói với bà; Tính khí nóng nảy, từng gây thương tích phải đi may

và để lại sẹo lớn cho con, sự việc xảy ra khi con đã năm tuổi nên con vẫn còn

nhớ; từng bị buộc thôi việc do gây gỗ đánh nhau khi còn làm việc tại Công ty Ô

tô H; Thiếu trách nhiệm, sự quan tâm, lắng nghe, chia sẻ và nhẫn nại với con;

Có tư tưởng chính trị chưa đúng đắn; Đã có vợ khác (kết hôn vào khoảng tháng

4/2023) và quan trọng nhất là con có nguyện vọng ở với bà.

- Hiện nay bà đang làm nhân viên văn phòng, làm theo giờ hành chính,

thu nhập khoảng 11.000.000 đồng/tháng nên có điều kiện chăm sóc, đưa đón

con đi học. Nếu được nuôi con thì bà và con ở tại nhà số D đường H, khu phố B,

phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nhà bố mẹ bà, có bố mẹ bà

hỗ trợ bà chăm sóc con nhưng bà vẫn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng,

dạy bảo, đưa đón con đi học.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Nếu được Tòa quyết định cho bà được

trực tiếp nuôi dưỡng con, bà yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con 4.000.000

đồng/tháng, cấp dưỡng vào ngày 10 dương lịch hàng tháng.

Theo bị đơn ông Phạm Đăng H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của ông H trình bày:

Năm 2014 ông H và bà Nguyễn Đình Kim K kết hôn và có một con chung

là Phạm Đăng M (sinh ngày 21/11/2014). Ngày 07/04/2022 Tòa án nhân dân

Quận 12 ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các

đương sự số 342/2022/QĐST - HNGĐ, giao con chung Phạm Đăng M cho ông

H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên. Từ sau khi ly hôn ông H

và trẻ M ở quê nội tại địa chỉ số B đường N, Phường T, thành phố P, tỉnh Ninh

Thuận, đến tháng 7/2022 ông H vào lại Thành phố Hồ Chí Minh làm việc, sinh

sống; Trẻ M và ông nội (Phạm Đăng H1, sinh năm 1954) sống cùng nhau tại địa chỉ trên, trẻ M đang học lớp 4B trường tiểu học T. Ông nội là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đưa đón trẻ M đi học và dạy trẻ M học.

Nguyên đơn bà K và gia đình bà K đã không tuân thủ và ngang nhiên

dùng thủ đoạn để cản trở quyền của con được sống chung với ông H và quyền của ông H được nuôi con - người được trực tiếp nuôi con theo quyết định của Tòa, đồng thời đã có những hành vi trái pháp luật như dùng thủ đoạn bắt giữ con khi không được sự cho phép của ông H từ ngày 02/02/2024 đến nay chưa quay trở lại và không có bất kỳ thông tin liên lạc nào với gia đình ông H, ông H đã trình báo chính quyền địa phương và nhà trường về vấn đề này; đe dọa, vu khống, xúc phạm danh dự, bắt ép dọa nạt hiệu trưởng và ông với nội dung “không được cản trở bà K trong việc rút hồ sơ học bạ của con tôi”. Ngang nhiên xem thường luật pháp và các cơ quan thực thi luật pháp; dựng chuyện bôi xấu cha của ông “bạo hành cháu nội đích tôn của ông” để đảo ngược quyền nuôi con.

Ngày 06/03/2024 ông H có làm đơn gửi Chi cục Thi hành án dân sự Quận

12, Tp Hồ Chí Minh đề nghị Thi hành án yêu cầu bà K thực hiện theo đúng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 342/2022/QĐST - HNGĐ ngày 07/04/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12. Ngày 29/3/2024 ông và ba ruột của ông là Phạm Đăng H1 - ông nội cháu Phạm Đăng M có lên Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12 để bà K thực hiện việc giao con chung cho ông trực tiếp nuôi dưỡng. Ông rất sốc khi chứng kiến con của mình thần sắc và thái độ khác lạ, lạnh nhạt và cháu không hề chào hỏi ông và ông nội cháu. Sự việc xảy ra lúc đó có nhờ sự phối hợp của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12 và chấp hành viên nên ông đã được bế con đi xuống ra lấy xe về, nhưng ngay lúc đó gia đình bà K đặc biệt là ông Nguyễn Đình Kim (cha ruột của bà Nguyễn Đình Kim K) có hành vi ứng xử côn đồ thái độ hung hãn, lao vào túm áo ba ông và có lời lẽ xúc phạm ba ông nên dẫn đến việc hai bên xô xát, làm cho việc thi hành án trả con lại cho ông không thành công. Cùng với sự động viên của các anh chị bên Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, công an phường và lúc đó con ông cũng đang trong tình trạng tâm lý hoang mang khi thấy cảnh tượng gia đình nội - ngoại đang xảy ra xô xát nhau nên tạm thời buổi giao con không thành công và sẽ tiến hành Thi hành án lại lần 2. Vào lúc 15 giờ 00 phút cùng ngày, theo lời mời của chi cục THADS Q.12 ông có lên gặp lại Chấp hành viên, để lập biên bản yêu cầu tiến hành thi hành án lần 2 với bà Nguyễn Đình Kim K thực hiện đúng việc giao con cho ông theo Quyết định số 342/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/04/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12 nhưng cũng không thành.

Mỗi tháng ông H về quê vài lần để thăm con, đưa con đi chơi và vẫn

thường xuyên gọi điện thoại liên lạc với con.Hiện nay ông đang làm chuyên viên văn phòng, thu nhập khoảng từ 22.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng/tháng. Đi làm từ sáng đến 18 giờ, ông sẽ cho con học thêm các môn năng khiếu và ngoại khóa tại trường rồi ông sẽ đón con tan học, ông có điều kiện chăm sóc, đưa đón con.Ông sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con tại nhà của ông tại địa chỉ số A đường H, tổ C, khu phố B, phường T, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà hiện có ông H

và vợ của ông ở), mà không đưa về cho cha ông nuôi ở quê. Đồng thời vợ của

ông (kết hôn tháng 4/2023) đồng ý hỗ trợ ông trong việc trông nom, chăm sóc,

đưa đón trẻ M.

Vì vậy ông H không đồng ý giao con chung cho bà K trực tiếp nuôi

dưỡng, không đồng ý yêu cầu hạn chế quyền thăm con của bà K, không đồng ý

yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng của bà K.

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1007/2024/HNGĐ-ST ngày

28/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên

xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Đình

Kim K.

Giao trẻ Phạm Đăng M, giới tính nam, sinh ngày 21/11/2014 cho bà K

trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên.

Ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mức cấp dưỡng

4.000.000 (bốn triệu) đồng/tháng. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 10

dương lịch mỗi tháng. Việc thi hành án do các bên đương sự tự nguyện thực

hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Không chấp nhận yêu cầu của bà K về việc hạn chế quyền thăm con của

ông H.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền nghĩa vụ của cha mẹ

với con sau khi ly hôn, quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo

qui định của pháp luật.

Ngày 03/9/2024, ông Phạm Đăng H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ

thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ

yêu cầu khởi kiện của bà K.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn ông Phạm Đăng H đồng thời là người kháng cáo và người bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của ông H cùng trình bày:

Ông H và bà K có 1 con chung là Phạm Đăng M, khi ly hôn hai bên đã thỏa

thuận giao con Đăng M cho ông H nuôi dưỡng, trẻ M được ông nội tên Phạm

Đăng H1 là nhà giáo về hưu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạo điều kiện để

trẻ được học tập văn hóa kết hợp rèn luyện thể lực, năng khiếu, kết quả học tập

của trẻ M từ lớp 2 đến lớp 4 luôn đạt học sinh giỏi; bản thân ông H vẫn làm tròn

bổn phận làm cha, thường gọi điện về thăm con. Từ ngày 03/2/2024 đến nay bà

K tự ý mang con về nuôi không được ông H đồng ý là trái luật. Ông H có nhà

riêng, có đủ điều kiện nuôi con nên ông H yêu cầu Tòa án chấp nhận kháng cáo

cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đăng M. Tuy nhiên, sau khi hội

đồng xét xử phân tích, động viên, hòa giải, ông H đồng ý theo nguyện vọng của

con, giao con chung Đăng M cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: Trước kia ông nuôi con ông không yêu cầu bà

K phải cấp dưỡng nuôi con, trường hợp được giao nuôi con ông H không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con vì ông có đủ khả năng. Bà K muốn nuôi con nhưng lại muốn nuôi bằng tiền của ông H, đòi ông phải cấp dưỡng nuôi con là phi lý. Mặt khác, thu nhập hiện nay của ông H bị giảm chỉ khoảng 07 đến 08 triệu đồng/tháng, mỗi tháng ông H còn phải gửi nuôi cha ruột là ông Phạm Đăng H1 từ 02 đến 03 triệu đồng/tháng, chuẩn bị tiền để đi học thạc sĩ và chi tiêu cá nhân nên ông H không đồng ý cấp dưỡng nuôi con Đăng M 4.000.000đồng/tháng như bà K yêu cầu mà chỉ có thể cấp dưỡng nuôi con theo khả năng của ông H, nhưng khả năng là bao nhiêu thì ông H không biết.

Nguyên đơn bà Nguyễn Đình Kim K trình bày:

Bà K đồng ý quyết định của án sơ thẩm và không kháng cáo.Bà yêu cầu

được trực tiếp nuôi dưỡng con Đăng M vì ông H và gia đình ông H không tạo điều kiện cho bà khi thăm con, trẻ M có nguyện vọng được ở với bà, bản thân bà có công việc ổn định, làm việc theo giờ hành chính với thu nhập khoảng 11.000.000đồng/tháng, được cha mẹ đồng ý hỗ trợ thêm để nuôi con và đồng ý cho 2 mẹ con bà về sống cùng nhà.

Nay ông H đồng ý giao con cho bà nuôi thì bà chấp nhận, tuy nhiên, bà vẫn

giữ nguyên yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con Đăng M số tiền 4.000.000đồng/tháng để xác định trách nhiệm nuôi con của ông H và có thêm điều kiện chăm lo tốt hơn cho con. Việc ông H khai hàng tháng phải gửi tiền cho cha là ông Hải là không đúng vì ông Hải sống một mình tại nhà riêng ở Ninh Thuận, thời điểm năm 2009 lúc ông Phạm Đăng H1 nghỉ hưu thì tiền lương hưu của ông Hải đã trên 5.000.000đồng/tháng, từ đó đến nay lương hưu đã thay đổi cao hơn trước rất nhiều nên không cần cấp dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa phát biểu: những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về hình thức kháng cáo của ông H còn trong hạn luật định nên hợp lệ; về nội dung kháng cáo: bị đơn ông H kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm về việc giao con chung cho bà K nuôi và về mức cấp dưỡng nuôi con nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, ông H và bà K thỏa thuận giao cho chung Phạm Đăng M cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, việc thỏa thuận giao con cho bà K nuôi là tự nguyện không trái quy định pháp luật đề nghị tòa ghi nhận.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: Tại cấp sơ thẩm, ông H trình bày thu nhập

khoảng từ 22.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng/tháng tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm ông không đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con 4 triệu đồng/tháng với lý do ông không có khả năng nuôi con vì thu nhập của ông khoảng 7 đến 8 triệu đồng/tháng, ông phải học thạc sĩ và nuôi cha. Xét thấy, lý do ông H đưa ra không hợp lý, mâu thuẫn với lời trình bày của ông khi giành quyền nuôi con, nên ông kháng cáo không đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con là không có cơ sở.

Đề nghị hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông

Phạm Đăng H về mức cấp dưỡng nuôi con. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 1007/2024/HNGĐ-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12,

ghi nhận việc giao con chung cháu Minh cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, các

phần khác giữ nguyên. Về án phí: các đương sự phải chịu theo quy định của

pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận. Hội đồng xét xử phúc

thẩm nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Phạm Đăng H làm trong thời hạn

luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều 273

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đơn kháng cáo được chấp nhận xem xét

theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo:

Căn cứ Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các

đương sự số 342/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/4/2022 của Tòa án nhân dân

Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Đình Kim K và ông Phạm

Đăng H thuận tình ly hôn, đồng thời thỏa thuận giao con chung tên Phạm Đăng

M, sinh ngày 21/11/2014 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà K, ông H thừa

nhận trên thực tế sau khi ly hôn, ông H đã đưa trẻ M về Ninh Thuận và giao trẻ

M cho ông Phạm Đăng H1 (là cha của ông H) trực tiếp nuôi dưỡng tại địa chỉ:

Số B đường N, Phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận, còn ông H về sống tại

Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9/2022 đến nay. Do ngày 03/2/2024 bà K tự

đến trường học đưa trẻ M về không được ông H đồng ý nên hai bên phát sinh

tranh chấp về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Xét thấy, án sơ thẩm xử giao con chung cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng,

ông H không đồng ý nên kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông H và

bà K đồng ý thỏa thuận giao con chung tên Phạm Đăng M cho bà K trực tiếp

chăm sóc, nuôi dưỡng; việc thỏa thuận này không trái pháp luật và đạo đức xã

hội, phù hợp với nguyện vọng của con chung muốn được ở với mẹ, được hội

đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa phúc thẩm ông H trình bày ông có

đủ khả năng nuôi con nên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm giao

con chung Đăng M cho ông H nuôi mà không yêu cầu bà K phải cấp dưỡng nuôi

con. Sau khi đồng ý thỏa thuận giao trẻ M cho bà K nuôi dưỡng, bà K vẫn giữ

nguyên yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng/tháng thì ông H

không đồng ý.

Xét thấy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 71, khoản 3 Điều 82, Điều

110, Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì cha mẹ có quyền, nghĩa vụ

ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, người không

trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, như vậy, căn cứ quy định

này ông H không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nay

ông H không đồng ý cấp dưỡng nuôi con và đưa ra lý do hiện nay thu nhập của ông chỉ khoảng 7 đến 8 triệu đồng/tháng nên không đồng ý cấp dưỡng nuôi con như bà K yêu cầu. Lời khai này mâu thuẫn với chính lời khai thừa nhận đủ khả năng nuôi con lúc ban đầu tại phiên tòa phúc thẩm của ông H và không có căn cứ chứng minh thu nhập của ông H bị giảm sút nên không có cơ sở thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Các quyết định khác của án sơ thẩm đương sự không kháng cáo nên

không xét.

Do đó, cần sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 1007/2024/HNGĐ-ST

ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, ghi nhận việc giao con chung Phạm Đăng M cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, các phần khác giữ nguyên như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.

Về án phí : do sửa một phần án sơ thẩm nên người kháng cáo là ông H

không phải chịu án phí phúc thẩm, theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3, khoản 5, khoản 8 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 38, Điều

148, Điều 306, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 71, các Điều 81,82,83, 84, 110 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Ban hành quy định về mức thu, miễm giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

* Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Phạm Đăng H về

mặt hình thức.

* Về nội dung:

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phạm Đăng H;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Đình Kim K. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 1007/2024/HNGĐ-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

1. Công nhận thỏa thuận của ông Phạm Đăng H và bà Nguyễn Đình Kim K

tại phiên tòa phúc thẩm, giao con chung là trẻ Phạm Đăng M, giới tính nam, sinh ngày 21/11/2014 cho bà Nguyễn Đình Kim K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con thành niên.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con

được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người

trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của

người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi

con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng

các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực

tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực

tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp

luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và

mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Đình Kim K về việc hạn chế

quyền thăm con của ông Phạm Đăng H.

3. Về cấp dưỡng nuôi con:

Ông Phạm Đăng H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Phạm Đăng M số tiền

4.000.000 (bốn triệu) đồng/tháng. Thực hiện cấp dưỡng vào ngày 10 dương lịch

hàng tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến đến khi con thành niên.

4.Về thi hành án.

Thi hành dưới sự giám sát của của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bà K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông H không thi hành án

thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền phải thanh toán theo mức lãi

suất được quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

trên số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

5.Về án phí:

Bà Nguyễn Đình Kim K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu hạn

chế quyền thăm con không được chấp nhận là 300.000 đồng (ba trăm nghìn)

đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm

nghìn) đồng bà K đã tạm nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số

0022007 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố

Hồ Chí Minh. Bà K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Phạm Đăng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu thay đổi

người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà K được chấp nhận là 300.000 (ba

trăm nghìn) đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm nghìn)

đồng, nộp tại chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ ông Phạm Đăng H không phải chịu.

Hoàn lại cho ông H số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí

phúc thẩm ông H đã tạm nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0042008

ngày 13/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12 Thành phố Hồ Chí

Minh.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ