- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp nợ hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T đối với bà Dương Huỳnh Hồng L.
- Căn cứ chính? Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 11 Bộ luật Dân sự; Điều 11 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/DS - ST Ngày 16 - 7 - 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân
1.Ông Trương Thanh Tuấn
2.Bà Nguyễn Thị Cẩm Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phượng - Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa
Ngày 16 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 102/2025/TLST - DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2025/QĐXXST - DS ngày 22 tháng 5 năm 2025. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T - sinh năm: 1971; địa chỉ: ấp T, phường T, quận B, Thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Dương Huỳnh Hồng L - sinh năm: 1980; địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang - Nay là ấp N, xã N, tỉnh An Giang.
(Bà T có mặt, bà L có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị T trình bày: Bà tham gia tất cả 03 dây hụi do bà Dương Thị Hồng L làm chủ cụ thể như sau:
Dây hụi 1.000.000 đồng, áp ngày 25/2/2021 (dl) sổ vào ngày 25 (dl) hàng tháng, có 28 thành viên tham gia, bà tham gia 02 chân hụi, đóng hụi được 27 lần với số tiền 54.000.000 đồng.
Dây hụi 1.000.000 đồng áp ngày 15/11/2022 (dl), sổ vào ngày 15 (dl) hàng tháng, có 27 thành viên tham gia, dây hụi này bà tham gia 03 chân, đã đóng được 09 lần với số tiền 27.000.000 đồng.
Dây hụi 1.000.000 đồng, áp ngày 05/6/2023 (dl) sổ vào ngày 05 (dl) hàng tháng, có 28 thành viên tham gia, bà tham gia 01 chân hụi, đóng được 03 lần với số tiền 3.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền bà đã đóng cho bà L 84.000.000 đồng. Ba dây hụi trên còn sống bà chưa được hốt lần nào. Việc chơi hụi bà L tự ghi chép không giao giấy tờ gì cho bà. Tại phiên tòa hôm nay bà xin được rút một phần yêu cầu khởi kiện do không có giấy tờ chứng minh số tiền đóng hụi trên nên bà rút một phần yêu cầu với số tiền 25.900.000 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng). Bà yêu cầu bà L phải trả cho bà số tiền hụi 58.100.000 đồng (năm mươi tám triệu một trăm nghìn đồng) không yêu cầu tính lãi.
Tại bản tự khai đề ngày 03/6/2025 bà Dương Thị Hồng L trình bày: Bà thừa nhận làm chủ hụi, bà Bùi Thị T có tham gia chơi 03 dây hụi như sau: Dây hụi ngày 15/11/2022 bà T tham gia 03 chân, đóng được 27 lần x 700.000 đồng = 18.900.000 đồng; Dây hụi ngày 25/2/2021 đóng 27 lần x 700.000 đồng x 02 chân = 37.800.000 đồng; Dây hụi ngày 05/6/2023 đóng 02 lần x 700.000 đồng = 1.400.000 đồng. Như vậy, bà còn thiếu tiền hụi của bà T là 58.100.000 đồng, không phải là 84.000.000 đồng như yêu cầu khởi kiện của bà T. Do hoàn cảnh của bà hiện nay thiếu nợ rất nhiều người, bà cam kết sẽ trả dần số tiền trên cho bà T cho đến khi dứt nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
{1.1} Về thẩm quyền: Bà T khởi kiện yêu cầu bà L phải trả số tiền nợ hụi còn thiếu đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi. Bị đơn có nơi cư trú tại xã N, tỉnh An Giang. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự, thủ tục.
{1.2} Về sự có mặt của đương sự: Bà Dương Huỳnh Hồng L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy việc vắng mặt của bà L không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà L.
Về nội dung:
{2.1} Xét yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận sự việc tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng góp hụi với nhau. Bà T tham gia các dây hụi do bà L làm chủ hụi gồm 03 dây hụi tháng, mỗi chân hụi 1.000.000 đồng, 01 tháng sổ hụi 01 lần. Các đương sự cũng thống nhất với về thời gian mở hụi và những lần đóng hụi. Tuy nhiên, bà L đề nghị tính trung bình mỗi chân hụi sống đóng là 700.000 đồng/lần/tháng và bà T cũng đồng ý. Tại phiên tòa hôm nay bà T đồng ý số tiền hụi mà bà L thừa nhận còn thiếu của bà là 58.100.000 đồng (năm mươi tám triệu một trăm nghìn đồng), bà yêu cầu bà L phải trả một lần, không yêu cầu tính lãi. Bà Bùi Thị T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà L trả số tiền hụi 25.900.000 đồng và chỉ yêu cầu bà L trả số tiền 58.100.000 đồng. Việc rút một phần yêu cầu của bà T là tự nguyện nên căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T.
Hội đồng xét xử thấy rằng bà L là chủ hụi và có nghĩa vụ duy trì giao tiền hụi cho các thành viên chơi hụi khi đến lượt lĩnh hụi nhưng bà L không duy trì được các dây hụi, tự ý chấm dứt dây hụi mà không có sự đồng ý của các thành viên tham gia chơi hụi, tuyên bố vỡ hụi là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà T về việc yêu cầu bà L phải trả lại số tiền góp hụi còn thiếu là 58.100.000 đồng (năm mươi tám triệu một trăm nghìn đồng) là có căn cứ và phù hợp với quy định khoản 4 Điều 11, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 11, điểm a khoản 2 Điều 15, khoản 3, 4 Điều 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu phường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
{2.2} Về yêu cầu tính lãi: Do bà T không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận nên hoàn lại cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 00013089 ngày 02/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng.
Bà L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: 58.100.000 đồng x 5% = 2.905.000 đồng (hai triệu chín trăm linh năm nghìn đồng)
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 4 Điều 11, Điều 471, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 11, điểm a khoản 2 Điều 15 và khoản 3, 4 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu phường.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T đối với bà Dương Huỳnh Hồng L.
Buộc bà Dương Huỳnh Hồng L phải trả cho bà Bùi Thị T số tiền nợ hụi là 58.100.000 đồng (năm mươi tám triệu một trăm nghìn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ đối với yêu cầu của bà Bùi Thị T buộc bà Dương Huỳnh Hồng L trả số tiền hụi 25.900.000 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng)
3. Về án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch:
Hoàn lại cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 00013089 ngày 02/4/2025 Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng (Nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - An Giang.
Bà L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: 58.100.000 đồng x 5% = 2.905.000 đồng (hai triệu chín trăm linh năm nghìn đồng)
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày: Bà Bùi Thị T được tính kể từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2025). Bà L được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết của Tòa án.
Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - TAND tỉnh; - VKSND khu vực, tỉnh - Phòng THADS; - Đương sự; - UBND xã; - Lưu HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Chuyên |