- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bệnh viện Đa khoa tỉnh L.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2024/LĐ-PT Ngày 19-12-2024 V/v Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tấn Quốc
Các Thẩm phán
Bà Lê Thị Kim Nga
Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Khổng Văn Đa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2024/TLPT-LĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/LĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Tân An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bảo T, sinh năm 1993. Địa chỉ cư trú: Số B, ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L – Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sử tỉnh Long An.
- Bị đơn: Bệnh viện Đa khoa tỉnh L. Địa chỉ trụ sở: Số B, đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Thị Thùy T1 và bà Nguyễn Thị Thu D (theo văn bản ủy quyền của Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh L).
- Người kháng cáo: Bệnh viện Đa khoa tỉnh L là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 11 tháng 9 năm 2018, bà T được tuyển dụng làm viên chức của Bệnh viện Đa khoa tỉnh L với vị trí là Bác sỹ Đa khoa. Ngày 01 tháng 10 năm 2018, bà Thư ký hợp đồng làm việc xác định thời hạn với Bệnh viện Đa khoa tỉnh L. Sau đó, bà T tiếp tục ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn. Ngày 25 tháng 7 năm 2019, bà T được cử đi học chương trình đào tạo Sau đại học trong thời gian hai năm. Bà T có cam kết phục vụ lâu đài sau đào tạo. Trong quá trình làm việc, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ của bà T đều là cựu chiến binh, có bệnh nên bà T và chồng phải chuyển về huyện Đ để thuận tiện chăm sóc. Do khoảng cách địa lý khá xa và bản thân bà T có con nhỏ nên ngày 05 tháng 9 năm 2022, bà T đã nộp đơn xin nghỉ việc nhưng Bệnh viện không đồng ý nên ngày 08 tháng 9 năm 2022, bà T có thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng với bệnh viện và ngày 24 tháng 10 năm 2022, bà T đã nghỉ việc. Tuy nhiên, Bệnh viện Đa khoa tỉnh L không thực hiện việc xác định thời gian đóng bảo hiểm cho bà T. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng làm việc với Bệnh viện Đa khoa và yêu cầu Bệnh viện xác định thời gian đóng bảo hiểm cho bà T.
Mặt khác ngày 22 tháng 7 năm 2024, Sở Y tế tỉnh L đã có văn bản số 3997/SYT-TCHC gửi Bệnh viện Đa khoa tỉnh L với nội dung Sở Y tế đồng ý Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh L quyết định cho bà T được nghỉ việc từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
Người đại diện hợp pháp của Bệnh viện Đa khoa tỉnh L trình bày:
Do chuyên ngành đào tạo của bà T là ngành hiếm và tình hình hiện tại của Bệnh viện Đa khoa tỉnh L đang thiếu nhân lực trầm trọng nên Bệnh viện đề nghị bà T quay trở lại làm việc. Bệnh viện không yêu cầu hoàn lại chi phí đào tạo sau đại học. Bệnh viện đã nhận được Văn bản số 3997/SYT-TCHC ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Sở Y tế tỉnh L nhưng đang trong quy trình xử lý công văn nên chưa có quyết định cụ thể.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/LĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Tân An đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Bảo T về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với bị đơn Bệnh viện Đa khoa tỉnh L.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh L có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho Trần Thị Bảo T.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 07/8/2024, Tòa án nhân dân thành phố Tân An nhận được đơn kháng cáo của Bệnh viện Đa khoa tỉnh L kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà T phải phục vụ đủ thời gian theo hợp đồng cam kết với bệnh viện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Những người tham gia tố tụng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về tính hợp lệ của kháng cáo: Đơn kháng cáo nằm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về giải quyết yêu cầu kháng cáo: Bà T đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng theo quy định của pháp luật nên bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền Tòa án giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xét xử theo trình tự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại các Điều 32, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, bản án sơ thẩm đảm bảo thủ tục tố tụng.
Về việc giải quyết yêu cầu kháng cáo:
Xét kháng cáo của bị đơn Bệnh viện Đa khoa tỉnh L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn số 50/HĐLV-BVĐKLA ngày 30/9/2020 giữa bà T với Bệnh viện Đa khoa tỉnh L thì bà T làm việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L với chức danh là bác sĩ. Do điều kiện hoàn cảnh của bản thân và gia đình nên bà T có nguyện vọng thôi việc tại Bệnh viện. Ngày 05/9/2022, bà T đã nộp đơn xin nghỉ việc nhưng Bệnh viện không đồng ý nên ngày 08/9/2022 bà T có thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng với Bệnh viện và ngày 24/10/2022, bà T đã nghỉ việc. Căn cứ khoản 4 Điều 29 Luật Viên chức thì bà T được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc không xác định thời hạn và bà T đã thông báo trước về việc chấm dứt hợp đồng cho Bệnh viện Í ngày đến ngày bà T nghỉ việc.
Bệnh viện không đồng ý chấm dứt hợp đồng làm việc với lý do chuyên ngành đào tạo của bà T là “chuyên ngành hiếm” và "do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế” theo quy định tại các điểm b, d khoản 2 Điều 57 Nghị định 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Tuy nhiên, lý do này là một trong những trường hợp mà theo quy định viên chức chưa được thôi việc, còn trường hợp của bà T đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nên được giải quyết thôi việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 57 Nghị định 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ. Vì vậy, lời trình bày của Bệnh viện về việc không đồng ý việc bà T đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là không có căn cứ.
Về việc giải quyết về chấm dứt hợp đồng làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Viên chức và Điều 48 của Bộ luật Lao động. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T buộc Bệnh viện phải thực hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 48 của Bộ luật Lao động là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bệnh viện Đa khoa tỉnh L, giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh L phải chịu 300.000 đồng do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bệnh viện Đa khoa tỉnh L.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 15/2024/LĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Tân An.
Căn cứ vào các Điều 32, 35, 39, 147, 148 và Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 35, 48 Bộ luật Lao động; các Điều 29, 30 Luật viên chức; Điều 57 Nghị định 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; các Điều 12, 14, 26 và 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bảo T về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với bị đơn Bệnh viện Đa khoa tỉnh L.
- Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn số 50/HĐLV-BVĐKLA ngày 30/9/2020 giữa bà Trần Thị Bảo T với Bệnh viện Đa khoa tỉnh L.
- Bệnh viện Đa khoa tỉnh L có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho Trần Thị Bảo T.
2. Về án phí sơ thẩm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về lao động.
3. Về án phí phúc thẩm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm đối với tranh chấp về lao động. Khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà Bệnh viện Đa khoa tỉnh L đã nộp theo Biên lai thu số 0000672 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, Bệnh viện Đa khoa tỉnh L đã nộp xong.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Long An; - TAND TP Tân An; - Chi cục THADS TP Tân An; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tấn Quốc |