- Tranh chấp gì? án hình sự — "L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hồ Thị L 06 (Sáu) tháng tù về tội : “ Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời giA thử thách 12 (Mười hai) tháng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- NGHỆ A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2024/HSST Ngày 27/6/2024 |
NHÂN DAH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ A
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế LA.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bá Soa.
2. Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà PhA Thị Thúy Lợi- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tất Hải- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở tòa án nhân dân, thị xã Cửa Lò mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số 15/2024/TLST- HS ngày 30/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/ HSST- QĐ ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:
Họ tên: Hồ Thị L ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ.
Sinh ngày 24 tháng 9 năm 1987, nơi sinh: huyện Quỳnh L, Nghệ A.
Nơi cư trú: Thôn 3, xã Ngọc L, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ A.
Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 07/12.
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ và tên cha: Không xác định được.
Họ và tên mẹ: Hồ Thị L, sinh năm 1964.
Ah, chị, em ruột: Không có.
CH: Thái Văn Gi, sinh năm 1985 (đã ly hôn năm 2014)
Con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2014
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Hồ Thị L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ kể từ ngày 07/4/2024 đến ngày 16/4/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh cho đến ngày nay có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1968. Trú tại: Khối Trung M, phường Lê M, TP V, tỉnh Nghệ A. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Thị L là giúp việc của nhà hàng Thúy H ( số 272 đường Nguyễn Sư Hồi, thuộc khối Vĩnh Tân, phường Nghi H, thị xã Cửa Lò) do chị Hồ Thị H (sinh năm 1968, trú tại khối Trung M, phường Lê M, thành phố V, tỉnh Nghệ A) làm chủ. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, trong lúc làm vệ sinh dọn dẹp phòng ngủ của chị H tại tầng 3 nhà hàng thì L phát hiện trong ngăn trên cùng của chiếc tủ để bên trái giường ngủ có một nhẫn vàng 18k (vàng Ý) hình tròn và một sợi dây chuyền vàng 18k (vàng Ý) có gắn mặt hình bông hoa. Lúc này, nhìn xung quAh không có ai nên L đã lấy chiếc nhẫn và sợi dây chuyền vàng cho vào túi quần đAg mặc rồi mAg đi cất giấu trong túi đồ của mình để trong phòng ngủ tầng 4 của nhà hàng, chờ thời cơ mAg đi bán. Ngày 03/4/2024, L nói với chị H gia đình có việc xin nghỉ, chị H đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 05 phút ngày 03/4/2024, L mAg chiếc nhẫn và sợi dây chuyền lấy trộm của chị H đi đến cửa hàng kinh doAh trAg sức vàng bạc Đức Tài Tâm Đạt (khối 5, thị trấn Cầu Giát, huyện Quỳnh L) để bán. Chị Bùi LA Trinh (sinh năm 1995, trú tại thôn Minh Thành, xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh L, Nghệ A) là nhân viên cửa hàng trực tiếp kiểm tra và mua số vàng trên với tổng số tiền là 23.330.000 đồng (Hai mươi ba triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng). Chị Trinh hướng dẫn cho L sAg vị trí chị Ngô Thị Cảnh (sinh năm 1982, trú tại Thôn H Yên, xã Quỳnh H, huyện Quỳnh L, Nghệ A) để nhận tiền. Sau khi bán được vàng, L sử dụng 13.330.000 đồng (mười ba triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng) vào mục đích tiêu xài cá nhân. Số tiền còn lại 10.000.000đ (mười triệu đồng) L nhờ chị Bùi Thị Hòe (sinh năm 1997, trú tại thôn 9, xã Ngọc L, huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ A) chuyển đến số tài khoản của con rể là Bùi Duy Tài (sinh năm 1991, trú tại xóm 7, xã Tân L, huyện Quỳnh L, Nghệ A). Ngày 04/4/2024, chị H phát hiện dây chuyền và nhẫn vàng bị mất trộm nên đã trình báo với Cơ quA CSĐT Công A tỉnh Nghệ A để giải quyết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/HĐĐG ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh Nghệ A kết luận: 01 nhẫn vàng 18k (vàng Ý) hình tròn và 01 dây chuyền vàng 18k (vàng Ý) có mặt dây chuyền hình bông hoa có tổng khối lượng là 5,79 chỉ; tại thời điểm 02/4/2024 có giá trị là: 23.330.000 đồng (Hai mươi ba triệu ba tram ba mươi nghìn đồng).
Vật chứng vụ án:
01 (một) nhẫn vàng và 01 (một) dây chuyền 18k (vàng ý) của chị Hồ Thị H do Hồ Thị L lấy trộm bán tại Cửa hàng Đức Tài Tâm Đạt với số tiền 23.330.000 đồng. Quá trình điều tra không thu hồi số vàng vì cửa hàng Đức Tài Tâm Đạt đã chế tác lại sản phẩm mới bán cho khách hàng. Đối với số tiền bán vàng L đã gửi cho con rể là Bùi Duy Tài 10.000.000đ để giữ hộ, số tiền còn lại L đã tiêu dùng cá nhân hết. Sau khi biết tiền do L phạm tội mà có nên Ah Bùi Duy Tài đã giao nộp lại 10.000.000đ cho Cơ quA điều tra. Hiện nay, số tiền này đã được trả cho chị Hồ Thị H.
Về dân sự:
Chị Hồ Thị H là người bị hại đã nhận số tiền 10.000.000 đồng do Ah Bùi Duy Tài giao nộp. Số tiền còn lại là 13.330.000 đồng chị H yêu cầu Hồ Thị L phải bồi thường. Ngoài ra, chị H không yêu cầu L phải bồi thường thêm khoản nào nữa.
Tại bản cáo trạng số 15/CT- VKS- CL ngày 29 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố Hồ Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hồ Thị L về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điểm b; i và điểm s khoản 1, 2 Điều 51 ; Điều 65 BLHS xử phạt Hồ Thị L từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời giA thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã nêu và xin được hưởng sự khoA H của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA điều tra công A tỉnh Nghệ A, cơ quA điều tra công A thị xã Cửa Lò, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ A, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hồ Thị L hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quA điều tra, lời khai của người bị hại, cũng như các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, tại nhà hàng Túy H, địa chỉ số 272, đườn Nguyễn Sư Hồi, khối Vĩnh Tân, phường Nghi H, thị xã Cửa Lò, Nghệ A. Hồ Thị L đã có hành vi lấy trộm của chị Hồ Thị H 01 nhẫn vàng 18k hình tròn và 01 dây chuyền vàng 18k(vàng ý) mặt dây chuyền có hình bông hoa tổng khối lượng 5,79 chỉ. Tổng trị giá tài sản là 23.330.000đ( Hai mươi ba triệu, ba trăm ba mươi ngàn đồng). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò truy tố bị cáo Hồ Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ.
. Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng trật tự trị A tại địa pH. Việc đưa bị cáo ra xét xử bằng bản án hình sự là hoàn toàn thỏa đáng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã khắc phục được một phần hậu quả cho bị hại. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quA công A đầu thú.Tại phiên tòa người bị hại đã yêu cầu hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, và điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân tốt từ trước đến nay không vi phạm pháp luật, không có tiền án, tiền sự và bị cáo có nơi cư trú ổn định, Do vậy nghĩ chưa cần phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa pH cũng đủ giáo dục bị cáo( Điều 65 BLHS).
Bị cáo Hồ Thị L không có việc làm ổn định và thu nhập thấp, không có tài sản riêng. Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Do vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với chị Bùi Thị Trinh, chị Nguyễn Thị Cảnh, chị Bùi Thị Hòe và Ah Bùi Duy Tài là những người mà bị cáo bán vàng và gữi tiền nhưng họ không biết được số vàng và tiền bán vàng do phạm tội mà có. Nenhoj không phạm tội.
. Về dân sự: 01 (một) nhẫn vàng và 01 (một) dây chuyền 18k (vàng ý) do Hồ Thị L lấy trộm bán tại Cửa hàng Đức Tài Tâm Đạt với số tiền 23.330.000 đồng. Quá trình điều tra không thu hồi số vàng trên .Đối với số tiền 10.000.000đ do Ah Bùi Thế Tài nộp lại cơ quA điều tra đã trả lại cho người bị hại, và ngày 26/6/2024 bị cáo L đã trả tiếp cho bị hại số tiền 10.000.000đ(Mười triệu đồng), số tiền còn 3.330.000đ chị Hồ Thị H yêu cầu bị cáo phải trả lại, xét yêu cầu của chị H là có căn cứ vì vậy buộc bị cao Hồ Thị L phải trả cho chị H số tiền 3.330.000đ (Ba triệu, ba trăm ba mươi ngàn đồng).khoản 1 Điều 48 BLHS
. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định( điểm đ, khoản 1 Điều 12, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i và điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 BLHS,
Xử phạt: Bị cáo Hồ Thị L 06 (Sáu) tháng tù về tội : “ Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời giA thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời giA thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/6/2024).
Giao bị cáo Hồ Thị L cho UBND xã Ngọc L, huyện Quỳnh L, Nghệ A quản L và giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa pH giám sát giáo dục bị cáo trong thời giA thử thách.
Trong thời giA thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Về dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS. Buộc bị cáo Hồ Thị L phải trả cho chị Hồ Thị H số tiền 3.330.000đ ( Ba triệu, ba trăm ba mươi ngàn đồng).
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; người bị hại; - VKSND Thị xã Cửa Lò; - Công A Thị xã Cửa Lò; - Chi cục THA Dân sự TX. Cửa Lò; - TAD tỉnh Nghệ A; - Sở Tư pháp Nghệ A. - L hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thế LA |