vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 25/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Đức Quốc phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b,i s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Đức Quốc phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Đức Quốc phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15 /2024/HS-ST
Ngày 25/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Xanh.

2. Ông Phạm Công Lương

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán

bộ Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên toà: Ông

Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu,

thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Đức Quốc - Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1998, tại tỉnh Quảng

Ngãi; Nơi ĐKHKTT và chổ ở : Thôn Trúc Hà, xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 9/12; con ông Huỳnh Tùng và bà Trương Thị Rông. Gia đình có 03 chị, em. Bị can là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/10/2023, có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng

- Bị hại: Ông Bùi Viết Thiện, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn Hồng Ân, xã

Iaphin, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị Tuyết Nhung, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp Phú Thành, xã Phú

Vang, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, vắng mặt.

+ Ông Trần Văn Lâm, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn 6, xã Tiên Cảnh, huyện

Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn 5, xã Tiên Cảnh,

huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

+ Ông Lê Tịnh, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn Hoài Ni, xã Phước Thái, huyện

Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Công Quang, sinh năm 1982. Địa chỉ: K339/H25/17 Trần Cao

Vân, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt

+ Bà Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1991. Địa chỉ: 229 Nguyễn Lương Bằng,

phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h15’ ngày 19/01/2019, anh Bùi Viết Thiện điều khiển xe mô tô

nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 75D1-124.84 chở Huỳnh Đức Quốc đến nhà trọ K386/24 Núi Thành, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng để ăn nhậu. Khi đến, Thiện để xe môtô trên ở dưới hành lang của dãy trọ, rồi cả hai đi lên tầng 03 để ăn nhậu cùng với anh Trần Văn Lâm. Đến khoảng 01h30’ ngày 20/01/2019, lợi dụng lúc Thiện đang ngồi nói chuyện với những người trong phòng và không để ý, nên Quốc lấy trộm chìa khóa xe mô tô trên của Thiện để bên cạnh rồi nhanh chóng đi xuống nổ máy tẩu thoát, Quốc mở cốp xe thì phát hiện bên trong có số tiền 5.500.000 đồng, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 011895 và 01 Chứng minh nhân dân đều mang tên Trần Thị Tuyết Nhung. Đến khoảng 14h00’ ngày 20/01/2019, Quốc điều khiển xe mô tô trên chở anh Lê Tịnh đến tiệm cầm đồ “Sáu Ly II” tại số 229 Nguyễn Lương Bằng, phường Hoà Khánh Bắc, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng do anh Nguyễn Công Quang làm chủ. Quốc mượn chứng minh nhân dân của Tịnh, giấy đăng ký xe và xe mô tô trên vào gặp chị Nguyễn Thị Hà là nhân viên của tiệm đồ, chị Hà chụp hình Giấy chứng minh nhân dân và nhận cầm cố xe mô tô trên với số tiền 10.000.000 đồng. Sau đó, Quốc bỏ đi khỏi địa phương và đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Thiện thức dậy phát hiện xe mô tô bị mất nên điện thoại cho Quốc thì không liên lạc được, khoảng 02 ngày sau, Thiện liên lạc lại thì Quốc cho biết đã đem xe trên đến cầm cố tại tiệm cầm đồ “Sáu Ly II”, nên Thiện đến Công an trình báo sự việc trên.

Đến ngày 12/10/2023, Quốc đến Công an xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc, tỉnh

Quảng Nam để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng tạm giữ từ Nguyễn Thị Hà:

- 01 xe mô tô biển số 75D1-124.84, số máy 0407269, số máy 334162.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001895 và 01 Chứng minh nhân dân

số 191834974 đều mang tên Trần Thị Tuyết Nhung.

- 01 Biên nhận của hợp đồng cầm cố số HĐ000263 của tiệm cầm đồ Sáu Ly II.

Theo Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 01/3/2019 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận Hải Châu kết luận: xe mô tô trên có giá trị là 11.500.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 27 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân

dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Huỳnh Đức Quốc về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị

cáo về tô ̣i danh nói trên đồng thờ i đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Á p du ̣ng khoản 1 Điều 173; điểm b,i s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t

hinh sự, xử pha ̣t Huỳnh Đức Quốc từ 09 tháng đến 12 tháng tù. ̀

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đại diện Viện kiểm sát nhân dân

quận Hải Châu đề nghị HĐXX xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm

sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận:

Khoảng 01h30’ ngày 20/01/2019, tại K386/24 Núi Thành, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, Huỳnh Đức Quốc đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 75D1-124.84 có trị giá 11.500.000 đồng, bên trong cốp xe có 5.500.000 đồng từ anh Bùi Viết Thiện (Thiện mượn của bà Trần Thị Tuyết Nhung), rồi mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến ngày 12/10/2023, Quốc đến Công an xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tổng trị giá tài sản Huỳnh Đức Quốc chiếm đoạt là: 17.000.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu

chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Huỳnh Đức Quốc phạm tội về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt với mức án nghiêm tương ứng với hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,

phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại và bồi thường cho anh Nguyễn Công Quang số tiền 10.00.000 đồng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và sẽ được áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Trong vụ án này đối với Nguyễn Thị Hà có hành vi nhận cầm cố xe mô tô

trên do Huỳnh Đức Quốc mang đến, nhưng không biết xe này do phạm tội mà có, nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu không xử lý là có căn cứ. Đối với Lê Tịnh có hành vi cùng Quốc mang xe mô tô trên đến tiệm cầm đồ “Sáu Ly II” để cầm cố, hiện Tịnh đã bỏ đi khỏi địa phương, chưa làm việc được, nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu điều tra làm rõ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nhung đã nhận lại xe mô tô trên và Nguyễn

Công Quang đã nhận lại số tiền 10.000.000 đồng nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Đức Quốc phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b,i s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật

Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử phạt: Huỳnh Đức Quốc 12 ( mười hai ) tháng tù về tội “Trộm cắp tài

sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 12/10/2023.

2. Án phí HSST bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

sơ thẩm, ngày 25/01/2024. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ