vanban.org

Bản án 15/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tòng Thị T - Bùi Xuân Th"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND THÀNH PHỐ L
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 27 -9-2024
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Chí sung

2. Bà Hà Thị Liên

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố L, tỉnh L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Tính, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố L, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/5/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 27/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QĐST – HNGĐ ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tòng Thị T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Bản H, phường N, thị xã M, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Bùi Xuân Th, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số nhà 128, đường Trần P, Tổ 14, phường Tân Ph, thành phố L, tỉnh L. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ơ

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn và các lời khai tại Tòa án nhân dân thành phố L, Chị Tòng Thị T là nguyên đơn trình bày:

Chị và anh Bùi Xuân Th kết hôn ngày 04/7/2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Ph, thành phố L, tỉnh L, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện.

Quá trình chung sống, anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tình cảm và về kinh tế. Sau khi phát sinh mâu thuẫn chị Tỉnh đã về nhà mẹ đẻ ở M để sinh sống, anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Chị Tòng Thị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Xuân Th.

Về con chung: Chị và anh Bùi Xuân Th không có con chung.

Về chia tài sản: Chị Tòng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Bùi Xuân Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tòng Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Phong, thành phố L, tỉnh L. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc, tuy có mâu thuẫn chủ yếu chị Tỉnh thấy có nhiều áp lực nhưng chưa lớn đến mức phải ly hôn, hai vợ chồng cần thời gian để thống nhất lại một số vấn đề khi sống chung nên anh chưa nhất trí ly hôn.

Về con chung: anh và chị Tòng Thị T không có con chung.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh không có yêu cầu phản tố.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Xuân Th không đến tham gia phiên họp và phiên hòa giải do Tòa án tiến hành.

Kết quả xác minh tại nơi ở của anh Bùi Xuân Th tại tổ 14, phường Tân Ph, thành phố L, tỉnh L thể hiện: Anh Bùi Xuân Th có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại tổ 14, phường Tân Ph. Trước đây anh Bùi Xuân Th và chị Tòng Thị T chung sống tại nhà anh Thao, nhưng thời gian gần đây không thấy chị T sống ở nhà anh T nữa, ngoài ra không cung cấp thông tin gì thêm.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Tòng Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với anh Bùi Xuân Th.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L có ý kiến về thủ tục tố tụng như sau: Quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về nhiệm vụ quyền hạn của thẩm phán được phân công. Tiến hành thụ lý vụ án đúng trình tự, thủ tục và gửi thông báo thụ lý vụ án đúng thời hạn quy định; Xác định đúng tư cách tố tụng của đương sự; Thu thập chứng cứ khách quan, công khai; Ra quyết định xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn luật định; Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo. Hội đồng xét xử đã xét xử vụ án đúng nguyên tắc, thành phần.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70,71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39. Các Điều 147, 227, 228, 254, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân & gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chị Tòng Thị T được ly hôn với anh Bùi Xuân Th. Việc nuôi con: Chị Tòng Thị T và anh Bùi Xuân Th không có con chung.

Về chia tài sản: Chị Tòng Thị T và anh Bùi Xuân Th không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Tòng Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và giải thích quyền kháng cáo của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố L, tỉnh L, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L.

Bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại Tòa nhiều lần vi phạm các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà lần thứ nhất, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa là đảm bảo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay việc tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Ngày 04 tháng 7 năm 2022, chị Tòng Thị T và anh Bùi Xuân Th đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Ph, thành phố L, tỉnh L trên cơ sở hai bên tự nguyện. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa hai anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng không được như mong muốn. Chị Tòng Thị T và anh Bùi Xuân Th đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian đó, hai vợ chồng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau vun vén hạnh phúc gia đình; không chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình... Vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Tòng Thị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Bùi Xuân Th là có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Về việc nuôi con: Chị Tòng Thị T và anh Bùi Xuân Th không có con chung. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

. Về chia tài sản: Chị Tòng Thị T và anh Bùi Xuân Th không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

. Về án phí: Chị Tòng Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, 254, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân & gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tòng Thị T được ly hôn với anh Bùi Xuân Th.

2. Việc nuôi con: Chị Tòng Thị T và anh Bùi Xuân Th không có con chung.

3. Về chia tài sản: Chị Tòng Thị T và anh Bùi Xuân Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết

4. Về án phí: Nguyên đơn là chị Tòng Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai ký hiệu: BLTU/23 số: 0000202 ngày 09/5/20224 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh L số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng chẵn). Xác nhận chị Tòng Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Cỡ chữ