vanban.org

Bản án 15/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Duy K đối với bà Nguyễn Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Duy K được ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Về con chung: Ông Lê Duy K và bà Nguyễn Thị T có 01 con chung tên Lê Da B, sinh ngày 06/7/2012. Giao con chung tên Lê Da B cho ông K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Lê Duy K yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bà Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Duy K đối với bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Danh Tuất.

2. Bà Ngô Thị Quốc Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 355/2023/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST – HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Duy K, sinh năm: 1986 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ I, khu phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1982 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Duy K trình bày:

Ông Lê Duy K và bà Nguyễn Thị T xây dựng gia đình vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận, hôn nhân là trên cơ sở tự nguyện.

Cuộc sống chung giữa ông K và bà T hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Ông K và bà T đã cố gắng giải quyết những mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông K và bà T ly thân từ năm 2022 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau, không còn tình cảm cũng không lệ thuộc về kinh tế.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông K yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

Về con chung: Ông K và bà T có 01 con chung tên Lê Da B, sinh ngày 06/7/2012, hiện đang sống với ông K. Ông K yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông K và bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập bà Nguyễn Thị T đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng bà T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án lập biên bản về việc vắng mặt đương sự không tiến hành hòa giải được để có cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại các phiên tòa bà T đều vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Ông Lê Duy K yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với bà Nguyễn Thị T đây là quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn bà Nguyễn Thị T có nơi cư trú tại huyện X, theo điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình tham gia tố tụng bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà T vắng mặt không có lý do, ông Lê Duy K có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt ông K, bà T là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên: Theo Công văn số 05/CV – VKS ngày 28/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về việc Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa, vì lý do Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, tại thời điểm vụ án được đưa ra xét xử Viện kiểm sát không đủ Kiểm sát viên để tham gia phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 232 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử khi Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Duy K xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị T vào năm 2012 có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 096/2012 ngày 04/9/2012 tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận), xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Ông K cho rằng cuộc sống chung giữa ông K và bà T hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Ông K và bà T đã cố gắng giải quyết những mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Kết quả xác minh tại địa phương: Về tình trạng mâu thuẫn giữa ông Lê Duy K và bà Nguyễn Thị T như thế nào thì địa phương không biết do không hòa giải ở cơ sở. Địa phương không biết ông Lê Duy K là ai vì hai người này không sống với nhau đã lâu, còn bà T thì hiện không sinh sống tại địa phương nhưng thỉnh thoảng bà T vẫn về để thăm gia đình. Bà T ở đâu địa phương không rõ. Nay ông K yêu cầu ly hôn với bà T, địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của ông K cho thấy: Sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra ông K và bà T phải cùng tìm cách khắc phục những mâu thuẫn của vợ chồng để cuộc sống chung được hạnh phúc và cùng nhau nuôi dạy con cái, nhưng từ năm 2022 đến nay, ông K và bà T ly thân, mạnh ai nấy sống vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình – 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Sau khi ông K gửi đơn, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải nhằm đoàn tụ vợ chồng nhưng không thể hòa giải được, bà T vắng mặt không lý do, ông K vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với bà T.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa ông K và bà T thật sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông K đối với bà T.

Về con chung: Ông Lê Duy K và bà Nguyễn Thị T có 01 con chung tên Lê Da B, sinh ngày 06/7/2012.

Xét yêu cầu của ông K về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho thấy: Từ khi ông K nộp đơn, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án cho đến nay, bà T không thể hiện ý kiến của mình về việc ông K có yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hiện nay con chung đang sống cùng ông K, được ông K chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của cháu B, cháu có nguyện vọng được sinh sống cùng ông K. Do đó, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử giao con chung tên B cho ông K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông K không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Lê Duy K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Lê Duy K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Duy K đối với bà Nguyễn Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Duy K được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

2. Về con chung: Ông Lê Duy K và bà Nguyễn Thị T có 01 con chung tên Lê Da B, sinh ngày 06/7/2012. Giao con chung tên Lê Da B cho ông K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Lê Duy K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Ông Lê Duy K phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông K đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005475 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông K đã nộp đủ án phí.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ