vanban.org

Bản án 15/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Phạm Thị Yến P1 và Lê Phúc D.

Về con chung: Giao con chung tên Lê Phạm Nhật L, nữ, sinh ngày 02/8/2021 cho bà Phạm Thị Yến P1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Phúc D cấp dưỡng nuôi con 900.000 đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Phúc D không ai được quyền ngăn c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Yến P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Phạm Thị Yến P1 và Lê Phúc D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/3/2024
V/v tranh chấp Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hồng Tươi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Phương

2. Bà Tô Phạm Tuyết Nghiêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thanh Thảo, là thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, con chung; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 182/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Yến P, sinh năm 1999

Địa chỉ: 8 Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Lê Phúc D, sinh năm 2000

Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn – bà Phạm Thị Yến P1 trình bày: bà P1 và ông Lê Phúc D tự nguyện tiến tới hôn nhân từ năm 2020, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận N, thành phố Cần Thơ số 29 ngày 05 tháng 4 năm 2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải. Ông D và bà P1 đã nhiều lần tạo cơ hội để hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả. Bà P1 phải tự mình nuôi dạy con rất mệt mỏi nên xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông D không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Lê Phúc D.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Phạm Nhật L, nữ, sinh ngày 02/8/2021. Hiện tại con chung đang sống với bà P1. Bà P1 yêu cầu được nuôi dưỡng con chung chưa thành niên, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có.

Nợ chung: không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Phạm Thị Yến P1 và bà Lê Phúc D xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân phường T, quận N, thành phố Cần Thơ số 29 ngày 05 tháng 4 năm 2021 là hôn nhân hợp pháp. Nay một bên yêu cầu được ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại huyện P nên Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Bị đơn ông Lê Phúc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông D vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt ông Đ.

Nguyên đơn bà Phạm Thị Yến P1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

Theo bà P1 trình bày quá trình chung sống bà P1 và ông Lê Phúc D chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên xảy cự cải, không tin tưởng nhau và ông D không chăm lo vợ con để bà P1 một mình nuôi con rất mệt mỏi. Bà P1 đã tìm nhiều cách để hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả. Bà P1 và ông D đã ly thân từ giữa năm 2023 đến nay nên bà P1 xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông D không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Lê Phúc D. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc triệu tập ông Đ đúng trình tự luật định để tham gia tố tụng tại tòa và có ý kiến đối với hôn nhân của mình nhưng phía ông D nhiều lần vắng mặt không lý do. Điều đó cho thấy ông D đã không còn thiết tha gì đến cuộc hôn nhân này, mâu thuẫn giữa các đương sự đã thực sự trầm trọng và cho đến nay không có biện pháp khắc phục, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do vậy, yêu cầu ly hôn của bà P1 đối với ông D là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Phạm Nhật L, nữ, sinh ngày 02/8/2021. Hiện tại con chung đang sống ổn định với bà Phạm Thị Yến P1 và bà P1 cũng yêu cầu được nuôi dưỡng con chung chưa thành niên. Ông D vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của ông D về việc nuôi con chung. Để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu L nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung cho bà Phạm Thị Yến P1 nuôi là phù hợp. Về cầu cầu cấp dưỡng nuôi con bà P1 yêu cầu 2.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên do ông D vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của ông D về cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức cấp dưỡng 900.000 đồng/tháng là phù hợp.

Tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Yến P1 trình bày không có. Tuy nhiên, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông D về tài sản chung và nợ chung nên tách ra thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.

Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81và Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Phạm Thị Yến P1 và Lê Phúc D.

- Về con chung: Giao con chung tên Lê Phạm Nhật L, nữ, sinh ngày 02/8/2021 cho bà Phạm Thị Yến P1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Phúc D cấp dưỡng nuôi con 900.000 đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Phúc D không ai được quyền ngăn cản.

- Tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của các đương sự.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Phạm Thị Yến P1 nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0006063 ngày 27/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền thành án phí. Án phí không có giá ngạch bà Phạm Thị Yến P1 phải nộp 300.000 đồng.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ