vanban.org

Bản án 15/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Hồng H ly hôn với ông Phạm Văn G .

Về con chung: Giao con chung tên là Phạm Nguyễn Gia L, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2022 cho bà Nguyễn Thị Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà H và ông G vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng H- Phạm Văn G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Hồng H ly hôn với ông Phạm Văn G .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12-04-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Được

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 04 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/QĐ-HPT ngày 26 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H - sinh năm: 1992; Trú tại: Tổ 2 thôn S, xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Văn G - sinh năm: 1987; Trú tại: 24/8 tổ 8 ấp T, xã L T, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 08 năm 2023 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày:

Vào năm 2021, bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Phạm Văn G tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Sau khi cưới nhau, vợ chồng về chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng trong quan điểm sống, cuộc sống chung bên gia đình chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu. Từ đó, vợ chồng chung sống nhưng không mang lại hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, tháng 10 năm 2022, bà H và ông G ly thân nhau. Từ khi ly thân đến nay, hai vợ chồng không gặp nhau để bàn chuyện hàn gắn. Nay, bà H không còn tình cảm với ông G nữa nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Nguyễn Gia L, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2022. Từ khi ly thân đến nay, bà H trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nay, bà H yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Linh và không yêu cầu ông G cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Phạm Văn G : Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng ông G không đến nên Tòa án không thể lấy ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Phạm Văn G hiện nay có nơi cư trú tại huyện Đất Đỏ nên căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Văn G đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông G .

Về nội dung:

Về yêu cầu ly hôn:

Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Phạm Văn G trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Tân, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu. Do vậy, theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đủ cơ sở xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng trong quan điểm sống, cuộc sống chung bên gia đình chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu không thể dung hoà. Từ đó, vợ chồng chung sống nhưng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và phải ly thân nhau từ tháng 10 năm 2022 đến nay. Nay, bà H không còn tình cảm với ông G nữa nên yêu cầu ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập ông G đến tham gia phiên hòa giải nhiều lần nhằm tạo điều kiện cho các bên quay về đoàn tụ nhưng ông G không đến tham gia giải quyết, bỏ mặc bà H muốn làm gì thì làm, điều đó cho thấy ông G không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân của mình. Từ khi ly thân đến nay, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ chia sẽ lẫn nhau. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông G đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 01 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H .

Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của bà H và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy bà H và ông G có 01 con chung là cháu Phạm Nguyễn Gia L, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2022. Xét, con chung đang sống trực tiếp, ổn định với bà H từ khi ly thân đến nay đồng thời cháu Linh hiện chưa đủ 36 tháng tuổi. Vì vậy, nhằm tránh xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ nên tiếp tục để cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Hồng H không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Phạm Văn G đều không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Phạm Văn G không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường Vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Hồng H ly hôn với ông Phạm Văn G .

2. Về con chung: Giao con chung tên là Phạm Nguyễn Gia L, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2022 cho bà Nguyễn Thị Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, bà H và ông G vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc các tổ chức, cá nhân được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

- Bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000033 ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ. Như vậy, bà H đã nộp đủ tiền án phí.

- Ông Phạm Văn G không phải chịu tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ