- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN TỈNH ĐẮK LẮK —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 3 - 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Ngọc Điệp
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Năng Long và bà Hoàng Thị Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Duy, Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư Kuin.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường A, trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn x, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Ông Lê Bật N, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn x, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:
Bà Nguyễn Thị P và ông Lê Bật N tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea H, huyện Krông Ana, nay là huyện Cư Kuin theo giấy chứng nhận kết hôn số 81 ngày 06/12/2007.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi dẫn đến vợ chồng không thể hòa hợp chung sống với nhau được nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, mặc dù được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thể đoàn tụ. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không có tình yêu thương, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị P yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với ông Lê Bật N.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Lê Bật N có 02 con chung tên: Lê Bật Hoàng Đ, sinh ngày 23/8/2008 và Lê Bật Hoàng T, sinh ngày 26/8/2013. Hiện tại cháu T đang ở với bà P, cháu Đ đang ở với ông N. Sau khi ly hôn bà P có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và giao cháu Đ cho ông N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi thành niên và không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và nhiều văn bản tố tụng khác để thông báo cho bị đơn tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi cho mình nhưng bị đơn đều từ chối các văn bản tố tụng, đồng thời vắng mặt tại các buổi làm việc ở Tòa án cũng như tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn.
Ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên toà:
Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với bị đơn. Về con chung giao con chung Lê Bật Hoàng T, sinh ngày 26/8/2013 cho nguyên đơn và giao con chung Lê Bật Hoàng Đ, sinh ngày 23/8/2008 cho bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời khai của các đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn ông Lê Bật N có địa chỉ nơi cư trú tại Thôn x, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý, giải quyết xét xử vắng mặt các đương sự là đúng với quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Lê Bật N xác lập quan hệ hôn nhân với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn; ngày 06/12/2007 ông bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ea H, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk nên quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp và được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống với nhau, nguyên đơn và bị đơn có cuộc sống không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã nên ông bà đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay không thể đoàn tụ. Do đó bà Phúc yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Lê Bật N. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông N đã vi phạm nghiêm trọng về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P và ông N có 02 con chung tên: Lê Bật Hoàng Đ, sinh ngày 23/8/2008 và Lê Bật Hoàng T, sinh ngày 26/8/2013. Hiện tại cháu T đang ở với bà P, cháu Đ đang ở với ông N.
Theo nguyện vọng của cháu T muốn được ở với bà P và cháu Đ muốn được ở với ông N sau khi bà P, ông N ly hôn. Xét thấy nguyện vọng của các cháu là tự nguyện, để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các cháu, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Lê Bật Hoàng T cho bà P và giao cháu Lê Bật Hoàng Đ cho ông N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, đảm bảo quá trình phát triển toàn diện, bình thường của các con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾTĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 227, 235, 238, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Lê Bật N.
2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Bật Hoàng T, sinh ngày 26/8/2013 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi thành niên. Giao con chung tên Lê Bật Hoàng Đ, sinh ngày 23/8/2008 cho ông Lê Bật N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Vì lợi ích của con và theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
4. Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0017913 ngày 08/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư Kuin; - Chi Cục THADS huyện Cư Kuin; - Các đương sự; - UBND xã Ea H; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tạ Thị Ngọc Điệp |