vanban.org

Bản án 15/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị Ch.

Về hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị Ch được ly hôn với anh Kim Sơn D. Về con chung tên: Hồ Hoàng Ph, sinh ngày 05/01/2006, đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/01/2024
“V/v Ly hôn và tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thạch Thị Yến Linh;

Ông Lê Văn Được.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh: Ông Lý Phước Bền, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án thụ lý số 95/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Ch, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp Bào B, xã Hiệp Mỹ T, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Chỗ ở hiện nay: Ấp 12, xã Long H, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Kim Sơn D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp Bào B, xã Hiệp Mỹ T, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Hồ Thị Ch trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2005 chị và anh Kim Sơn D, qua thời gian quen biết và tìm hiểu khoảng 11 tháng thì tiến tới hôn nhân và có tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuận Hòa, huyện Cầu Ngang, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh D khó khăn về tiền bạc nên giữa vợ chồng chị thường xuyên xảy ra cự cải và sống ly thân năm 2018 cho đến nay. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Sơn D.

- Về nuôi con tên: Hồ Hoàng Ph, sinh ngày 05/01/2006 hiện tại chị Ch đang nuôi dưỡng. Chị Ch yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ch không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Ch không tranh chấp, không khởi kiện.

- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị Ch không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Kim Sơn D vắng mặt lần thứ hai không lý do nên không có lời trình bày.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều được tống đạt đầy đủ cho các đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Hồ Thị Ch được ly hôn với anh Kim Sơn D, về con chung tên Hồ Hoàng Ph, sinh ngày 05/01/2006 hiện tại chị Ch đang nuôi dưỡng, quá trình giải quyết vụ án, chị Ch yêu cầu được nuôi con và cháu Ph có nguyện vọng sống chung với chị Ch. Tuy nhiên đến thời điểm xét xử cháu Ph đã trưởng thành, có đủ điều kiện để tự nuôi mình nên về con chung tên Hồ Hoàng Ph, sinh ngày 05/01/2006 đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung và số nợ phải thu phải trả, chị Ch không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Hồ Thị Ch nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

- Phần kiến nghị: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Kim Sơn D là bị đơn trong vụ án nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Dùng theo quy định.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Hồ Thị Ch khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Kim Sơn D, địa chỉ: Ấp Bào B, xã Hiệp Mỹ T, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang.

Về hôn nhân: Vào năm 2005, chị Ch và anh D xác lập hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuận H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Từ đó xác định hôn nhân giữa chị Ch và anh D là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị Ch trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị là do anh D khó khăn về tiền bạc nên giữa vợ chồng chị thường xuyên xảy ra cự cải và sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị cương quyết xin ly hôn với anh Kim Sơn D.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh Kim Sơn D đều vắng mặt không lý do nên không có lời trình bày.

Xét thấy trong quá trình chung sống, giữa chị Ch và anh D có xảy ra mâu thuẫn về lối sống nên vợ chồng anh, chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không quan tâm đến nhau. Tại phiên tòa hôm nay, chị Ch xác định chị không còn tình cảm với anh D, chị cương quyết xin ly hôn với anh D. Quá trình giải quyết vụ án, anh D đều vắng mặt không lý do thể hiện anh D không có thiện chí hàn gắn. Từ đó xét thấy mâu thuẫn giữa chị Ch và anh D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ch, về hôn nhân xử cho chị Hồ Thị Ch được ly hôn với anh Kim Sơn D.

Về con chung tên: Hồ Hoàng Ph, sinh ngày 05/01/2006, hiện tại chị Ch đang nuôi dưỡng. Xét thấy thời gian vợ chồng chị Ch sống ly thân, chị Ch là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Hồ Hoàng Ph, sinh ngày 05/01/2006, đảm bảo sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần của con. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Ch yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con và cháu Ph có nguyện vọng sống chung với chị Ch. Tuy nhiên đến thời điểm xét xử cháu Ph đã trưởng thành, có khả năng để nuôi sống bản thân nên về con chung Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị Ch không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Hồ Thị Ch phải chịu án phí theo quy định.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 235, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56 và Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị Ch.

- Về hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị Ch được ly hôn với anh Kim Sơn D.

- Về con chung tên: Hồ Hoàng Ph, sinh ngày 05/01/2006, đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Chị Ch không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị Ch không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Hồ Thị Ch phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Chiểm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0019141, ngày 17 tháng 10 năm 2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị Chiểm đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị Ch có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Kim Sơn D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ