vanban.org

Bản án 15/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vàng Thị H và anh Sin Văn C. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Sin Trà M, sinh ngày 20/10/2018, cho chị Vàng Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Anh Sin Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BAHNGĐ "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ky hôn" giửa NĐ Vàng Thị H, bị đơn Sin Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vàng Thị H và anh Sin Văn C. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

____________________________
Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 7 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thào Seo Tỏa

2. Bà Trần Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vàng Thị H, năm sinh 1997

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt

2. Bị đơn: Anh Sin Văn C, năm sinh 1996

Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện B1, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vàng Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị H và anh Sin Văn C tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 14/8/2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B1, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống được 6 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trong công việc, đời sống và nuôi dạy con nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, đến tháng 9 năm 2023 chị đã về nhà bố mẹ đẻ chị để ở. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, hiện chị và anh C đã sống ly thân. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sin Văn C.

- Về nuôi con khi ly hôn: Trong quá trình chung sống chị Vàng Thị H và anh Sin Văn C có 01 con chung: Cháu Sin Trà M, sinh ngày 20/10/2018, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, do trước đây chị phải đi làm thuê nên cháu M do anh C nuôi dưỡng, đến nay anh C thường xuyên vắng nhà nên cháu M do bà nội nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi của cháu, chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng cháu M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị H đang làm công việc tự do, thu nhập hàng tháng 7.000.000 đồng, đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung.

- Về quan hệ tài sản: Chị Vàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng, nhưng anh C không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có ý kiến về việc chị H khởi kiện ly hôn, nuôi con khi ly hôn và vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được về quan hệ hôn nhân và nuôi con khi ly hôn giữa chị H và anh C. Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng anh C vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:

+ Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự pháp luật tố tụng dân sự.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ theo qui định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về hôn nhân: Giải quyết cho chị Vàng Thị H được ly hôn với anh Sin Văn C.

+ Về con chung: Giao chị Vàng Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sin Trà M, sinh ngày 20/10/2018 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Sin Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản: Không đề nghị giải quyết.

+ Về án phí và quyền kháng cáo: Tuyên theo qui định Pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm pháp luật: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Vàng Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn đối với anh Sin Văn C có địa chỉ tại thôn K, xã B, huyện B1, vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Bắc Hà theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án nguyên đơn đã nhận và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Sau khi Toà án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử nguyên đơn có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Sin Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định tại khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vàng Thị H và anh Sin Văn C là hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Chị H xác nhận tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C không còn, nên chị đề nghị ly hôn để mỗi người có cuộc sống riêng.

Đối với anh Sin Văn C, Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng cho anh C theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh C vắng mặt không có lý do và không có ý kiến với đề nghị của chị H. Do đó Toà án không tiến hành hoà giải được. Xác minh tại địa phương nơi anh C cư trú thì anh C thường hay vắng mặt tại địa phương, hiện chị H và anh C không còn chung sống cùng nhau. Hội đồng xét xử xét thấy: Tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần được chấp nhận. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con khi ly hôn: Trong quá trình chung sống chị Vàng Thị H và anh Sin Văn C có 01 con chung là cháu Sin Trà M, sinh ngày 20/10/2018, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Sau khi ly hôn chi ̣ H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng cháu M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Xét về khả năng và điều kiện kinh tế, cũng như căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, thì chị H có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung, hiện cháu M còn nhỏ cần có sự chăm sóc của mẹ; còn anh C hiện vắng mặt tại nơi cư trú. Để đảm bảo việc học tập và sinh hoạt của cháu nên cần giao cho chị H được nuôi dưỡng cháu M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 1,3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vàng Thị H, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Chị Vàng Thị H phải chịu tiền án phi dân sự

́ sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1,2 Điều 81, khoản 1,3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1,3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vàng Thị H và anh Sin Văn C. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Sin Trà M, sinh ngày 20/10/2018, cho chị Vàng Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Anh Sin Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ chịu án phí: Chị Vàng Thị H phải chịu: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001356 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ