vanban.org

Bản án 15/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 25/03/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Đức N.

[1] Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Đức N được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu Q. [2] Về con chung: Giao cháu Lê Đức L, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Lê Đức H, sinh ngày 08/6/2013 cho anh Lê Đức N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên. Chị Đoàn Thị Thu Q không phải cấp dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Lê Đức N - Đoàn Thị Thu Q"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Đức N.
  • Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2024/HNGĐ-ST
Ngày 25 tháng 3 năm 2024
V/v “tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Phiên toà: Ông Nguyễn Viết Anh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

Bà Nguyễn Thị Phẩm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh P tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Đức N - sinh năm 1985,

ĐKHKTT: khu 20, xã V, huyện X, tỉnh P.

- Bị đơn: Chị Đoàn Thị Thu Q - sinh năm 1989,

ĐKHKTT: khu 20, xã V, huyện X, tỉnh P.

Hiện nay đang ở nước ngoài.

(Anh N có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Lê Đức N trình bày: Anh và chị Đoàn Thị Thu Q tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 02/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Cổ Tiết (nay là xã V), huyện Tam Nông , tỉnh P. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Sau đó một thời gian cả hai vợ chồng anh chị đều đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, trong thời gian ở nước ngoài giữa vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh N đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu Q.

Về con chung: Anh Lê Đức N xác định trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng anh chị 02 con chung là cháu Lê Đức L, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Lê Đức H, sinh ngày 08/6/2013. Khi ly hôn anh N đề nghị Tòa án giao 02 cháu L và cháu H cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và không yêu cầu chị Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: anh Lê Đức N không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Lê Đức N tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Anh Lê Đức N đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt mình.

Anh Lê Đức N trình bày hiện nay anh không biết địa chỉ cụ thể của chị Q ở Đài Loan nên anh không thể cung cấp địa chỉ của chị Q cho Tòa án được. Anh N đề nghị Tòa án xác minh địa chỉ của chị Q ở Đài Loan thông qua bố đẻ của chị Q là ông Đoàn Thanh T.

Thân nhân của chị Đoàn Thị Thu Q ông Đoàn Thanh T trình bày: ông là bố đẻ của chị Đoàn Thị Thu Q, hiện tại ông vẫn thường xuyên liên lạc với chị Q qua điện thoại nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của chị Q ở chỗ nào tại Đài Loan vì chị Q không nói cho ông biết. Do vậy, ông không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của chị Q tại Đài Loan cho Tòa án. Ông T cũng đã nhận và thông báo về nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Q được biết. Việc anh N làm đơn xin ly hôn chị Q, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Đức N. Về quan hệ hôn nhân: cho anh Lê Đức N được ly hôn chị Đoàn Thị Thu Q. Về con chung: giao cháu Lê Đức L, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Lê Đức H, sinh ngày 08/6/2013 cho anh Lê Đức N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chị Đoàn Thị Thu Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản, công nợ chung: không đặt ra xem xét. Về án phí: anh Lê Đức N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn anh Lê Đức N nộp đơn xin được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu Q tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trong đơn xin ly hôn, anh N trình bày hiện chị Q đang ở nước ngoài. Tại văn bản số 2398/QLXNC-P3 ngày 31/01/2024 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an cung cấp thông tin như sau: “Đoàn Thị Thu Q, sinh ngày 27/11/1989, đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 04/9/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh P.

Anh Lê Đức N vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Đức N và chị Đoàn Thị Thu Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 02/3/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Cổ Tiết (nay là xã V), huyện Tam Nông , tỉnh P. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng anh chị luôn hòa thuận, yêu thương nhau. Trong thời gian vợ chồng anh chị đi nước ngoài giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh N đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu Q.

Chị Đoàn Thị Thu Q hiện đang ở nước ngoài, anh Lê Đức N chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị Đoàn Thị Thu Q ở Việt N mà không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị Q ở nước ngoài cho Tòa án. Theo yêu cầu của anh N, Tòa án đã xác minh địa chỉ của chị Q ở nước ngoài thông qua bố đẻ của chị Q là ông Đoàn Thanh T.

Bố đẻ của chị Đoàn Thị Thu Q - ông Đoàn Thanh T cung cấp thông tin: hiện tại ông vẫn thường xuyên liên lạc với chị Q nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của chị Q ở nước ngoài vì chị Q không nói cho ông được biết. Do vậy ông không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của chị Q cho Tòa án được. Ông T cũng nhất trí nhận thay chị Q các văn bản tố tụng và thông báo về nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Q biết. Căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt N ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Hội đồng xét xử thấy rằng anh N và chị Q đã không còn chung sống cùng với nhau, vợ chồng sống ly thân đã một thời gian dài, không có sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên việc anh Lê Đức N đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu Q là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó đề nghị xin ly hôn của anh N được chấp nhận.

- Về con chung: hồ sơ vụ án thể hiện trong thời kỳ hôn nhân anh Lê Đức N và chị Đoàn Thị Thu Q 02 con chung là cháu Lê Đức L, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Lê Đức H, sinh ngày 08/6/2013. Khi ly hôn anh N đề nghị Tòa án giao cả 02 cháu L và Hải cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và anh không yêu cầu chị Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Xét thấy, hiện nay chị Q đang ở nước ngoài không có lời trình bày tại Tòa án. Hơn nữa, tại bản trình bày ý kiến của mình cả 02 cháu L và Hải đều có mong muốn được ở với bố sau khi bố mẹ ly hôn. Do vậy, để đảm bảo các điều kiện phát triển tốt nhất cho các con chung của anh N, chị Q thì cần giao 02 cháu L và Hải cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: chị Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng với anh N do anh N tự nguyện không yêu cầu.

- Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: anh Lê Đức N không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: anh Lê Đức N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo đối với Bản án: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Đức N.

[1] Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Đức N được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu Q.

[2] Về con chung: Giao cháu Lê Đức L, sinh ngày 25/8/2009 và cháu Lê Đức H, sinh ngày 08/6/2013 cho anh Lê Đức N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên. Chị Đoàn Thị Thu Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh N do anh N không yêu cầu. Chị Đoàn Thị Thu Q có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: anh Lê Đức N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Lê Đức N đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do anh Phạm Tiến Đạt nộp thay tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000108 ngày 16/01/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh P.

[5] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: anh Lê Đức N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày; chị Đoàn Thị Thu Q có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được Thiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ