vanban.org

Bản án 15/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Long Cảnh, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 56, 91, 101 Bộ luật hình sự; Điều 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt: Nguyễn Long C 06 (sáu) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "CẢNH TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Long Cảnh, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HSST
Ngày 14/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Tiến- Cán bộ hưu trí.

Bà Đặng Thị Thập - Giáo viên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Bích Ngọc– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YP, tỉnh BNxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Long C - Sinh ngày 24/9/2006, tại Yên Phong, Bắc Ninh.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn C, xã D, huyện YP, tỉnh BNQuốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Long Cường, sinh năm 1982; con bà Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1982; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 23/7/2022, bị Công an xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức C cáo.

Nhân thân: Tại Bản án số 171/2022/HSST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2022 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Long Cường, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn Chân Lạc, xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Là bố, mẹ đẻ của bị cáo Cảnh. (Bà Thanh có mặt, ông Cường vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Thị Thu Hương - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt).

Địa chỉ: Số 08, đường Phù Đổng Thiên Vương, phườ ng Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tinh Bẳ

́c Ninh. Bị hại

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu Hữu, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn Ô Cách, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo là đối tượng đã bỏ học, thường xuyên chơi điện tử (game). Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 15 giờ ngày 30/11/2022, bị cáo đi bộ từ quán game thuộc thôn Mẫn Xá, xã Long Châu, huyện Yên Phong đến thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong để tìm xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi bị cáo đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị Thu Hữu thì thấy không có ai nên bị cáo đi vào trong cửa hàng rồi đi vào trong phòng ngủ. Tại đây, bị cáo thấy một chiếc túi xách da màu đen đang treo trên tường, bị cáo lấy chiếc túi đó giấu trong người và đi ra ngoài. Bị cáo đi đến khu vực vòng xuyến Khu Công Nghiệp Yên Phong rồi mở túi ra kiểm tra bên trong có số tiền 4.700.000 đồng gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 20.000 đồng và 10.000 đồng. Bị cáo cầm tiền và vứt lại túi xách ở ven đường (cụ thể vị trí nào bị cáo không nhớ). Toàn bộ số tiền trộm cắp được bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 10/12/2022, chị Nguyễn Thị Thu Hữu có đơn trình báo gửi Công an xã Yên Trung về nội dung sự việc. Cùng ngày, bị cáo đã đến Công an xã Yên Trung đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSYP ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Nguyễn Long C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất của vụ án, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Long C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 06 đến 08 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của bản án số 171/2022/HSST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 15 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/12/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo và gia đình bị cáo phải bồi thường cho chị Hữu số tiền là 4.700.000đồng.

Về vật chứng: Chiếc túi xách da màu đen bị cáo vứt ở ven đường nhưng bị cáo không nhớ rõ vị trí cụ thể. Vì vậy, Cơ quan C sát điều tra không có cơ sở để truy tìm và thu hồi.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ, bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình, Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội danh. Bản thân bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nhận ra sai lầm của mình; đã đến cơ quan diều tra để đầu thú. Bị cáo là người chưa thành niên, hiểu biết pháp luâ ̣t còn ha ̣n chế. Vì vậy, tôi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 101 Bộ luật hình sự để xử phạt với mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện VKS, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về địa phương để trở thành công dân tốt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Hành vi phạm tội của C đã rõ, bị cáo chưa thành niên, nghỉ học sớm, chưa hiểu biết pháp luật, hoàn C kinh tế của gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất. Về bồi thường thiệt hại, gia đình nhất trí bồi thường cho chị Hữu số tiền 4.700.000đồng theo đề nghị của đại diện Viên kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong.

Người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị cáo không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 30/11/2022, tại cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị Thu Hữu ở thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Nguyễn Long C đã lén lút trộm cắp 01 túi xách bằng da màu đen, bên trong có số tiền 4.700.000 đồng. Số tiền này bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân tốt và có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình; Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Hơn nữa, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo được áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, mức hình phạt được áp dụng không quá ¾ mức hình phạt quy định của điều luật theo Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án số 171/2022/HSST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến nay, bản án trên đã có hiệu lực pháp luật nên áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo trong bản án này.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, hoàn C kinh tế gia đình khó khăn nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Hữu đề nghị bồi thường cho chị số tiền bị trộm cắp là 4.700.000 đồng. Đối với chiếc túi xách da chị Hữu không có đề nghị bồi thường. Đến nay, bị cáo và gia đình bị cáo chưa bồi thường gì cho chị Hữu nên buộc bị cáo và gia đình bị cáo phải bồi thường cho chị Hữu số tiền 4.700.000đồng.

Về vật chứng: Đối với chiếc túi xách da màu đen bị cáo vứt ở ven đường nhưng bị cáo không nhớ rõ vị trí cụ thể nên cơ quan C sát điều tra không có cơ sở để truy tìm và thu hồi.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Long Cảnh, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 56, 91, 101 Bộ luật hình sự; Điều 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Long C 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của bản án số 171/2022/HSST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo và gia đình bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu Hữu số tiền là 4.700.000đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ