- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B phạm tội Tàng trữ hàng cấm và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HSST Ngày: 27/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH H
- Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Duy Tỏi, Ông Đào Đình Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Thay - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh ngày 18/11/1979 tại tỉnh H; Tên gọi khác: Không ; Nơi ĐKHKTT: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn X Việt (không rõ năm sinh, địa chỉ); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1958; Vợ: Đinh Thị G, sinh năm 1982; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh 2013.
Tiền án, tiền sự: Chưa có;
Bị cáo Nguyễn Văn B bị tạm giữ từ ngày 24/11/2022, đến ngày 30/11/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, Có mặt.
* Người làm chứng:
- Bà Phạm Thị X. Vắng mặt.
- Chị Đinh Thị G. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị M. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5/2022, Nguyễn Văn B đi lên khu vực gần cửa khẩu Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn mua của một người đàn ông (khoảng 40 tuổi không quen biết) 03 khẩu súng tự chế, trong đó: 01 khẩu súng tự chế, (dài 52cm bắn đạn ghém cỡ 12); 02 khẩu súng hơi bắn đạn chì và 10,195 kg pháo nổ và pháo hoa nổ các loại với giá 4.500.000đ mang về cất giấu dưới gầm giường trong phòng tầng 2 nhà ở của B ở thôn P, xã T, huyện N, tỉnh H. Khoảng 10 ngày sau, B tiếp tục đi đến khu vực nêu trên mua của người đàn ông lần trước 01 khẩu súng bắn bi (thuộc đồ chơi nguy hiểm) và 1,47 kg pháo hoa nổ với giá 1.500.000đ mang về cất giấu trong ngăn tủ kệ để ti vi phòng khách tầng 1 nhà ở của B. B khai nhận: mua 04 khẩu súng nói trên với mục đích để trưng bày và mua 11, 665 kg pháo nổ, pháo hoa nổ mục đích để đốt vào dịp tết Nguyên Đán 2023. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/11/2022 thì bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh H phát hiện, thu giữ vật chứng.
- Kết luận giám định số 8091 ngày 25/11/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:
Khẩu súng dài khoảng 52cm gửi giám định là súng tự chế bắn đạn ghém cỡ 12, thuộc vũ khí quân dụng.
Khẩu súng dài khoảng 95cm gửi giám định là súng hơi bắn đạn chì cỡ 4,5mm, thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng.
Khẩu súng dài khoảng 107cm gửi giám định là súng hơi bắn đạn chì cỡ 5,5, thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng.
Hiện 03 khẩu súng gửi giám định còn sử dụng để bắn được và khi sử dụng bắn đạn vào cơ thể người gây chết hoặc bị tG.
- Kết luận giám định 8181 ngày 30/11/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 01 khẩu súng dài 22cm gửi giám định là súng bắn bi, thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm. Hiện tại, khẩu súng còn sử dụng để bắn được và khi sử dụng bắn bi vào cơ thể người có thể gây tG tích.
- Kết luận giám định số 125 ngày 08/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận:
03 vật hình hộp vuông, kích thước mỗi hộp khoảng 14,5 x 14,5 x 15cm, phần bên ngoài được bọc giấy có in hình nhiều màu sắc, in chữ Trung Quốc có tổng khối lượng 4,028 kg là pháo hoa nổ.
01 vật hình hộp vuông, kích thước khoảng 24 x 24 x 15cm, phần bên ngoài được bọc giấy có in hình nhiều màu sắc, in chữ Trung Quốc có khối lượng 4 kg là pháo hoa nổ.
02 vật hình trụ tròn, mỗi vật cao khoảng 9cm, đường kính khoảng 12cm, phần bên ngoài bọc giấy báo có in chữ tiếng Việt có tổng khối lượng 1,026 kg là pháo nổ.
08 vật có đầu hình trụ tròn, đáy hình cầu, cao khoảng 6,5cm có tổng khối lượng 0,321 kg là pháo hoa nổ.
01 vật có đáy hình vuông bằng bìa carton, kích thước khoảng 12 x 12cm, bên trong có 09 hình trụ tròn, cao khoảng 13,5cm, đường kính khoảng 3,8cm có khối lượng 0,488 kg là pháo hoa nổ.
Các vật hình trụ tròn cao khoảng 4,5cm, đường kính khoảng 0,5cm để bên trong 01 túi nilon màu đỏ dài khoảng 28cm, có tổng khối lượng 0,332 kg là pháo nổ.
- Kết luận giám định số 126 ngày 30/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận:
02 vật hình trụ tròn cao 10cm, đường kính 13cm, bên ngoài bọc giấy báo có in chữ tiếng Việt có tổng khối lượng là 1,327kg, tất cả đều là pháo nổ.
04 vật hình trụ tròn cao 7,2cm, đường kính 2,8cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ trắng có tổng khối lượng là 0,143, đều là pháo nổ. Tổng khối lượng của số pháo nổ gửi giám định là 1,47kg .
- Về vật chứng vụ án: 01 khẩu súng tự chế, dài 52cm bắn đạn ghém cỡ 12, thuộc vũ khí quân dụng (Đang gửi tại kho K153- Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H bảo quản) .
Đối với 10.999,779gam pháo nổ và pháo hoa nổ là vật chứng của vụ án hoàn trả lại sau giám định. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H đã thành lập hội đồng cho tiêu hủy.
Đối với 02 khẩu súng hơi bắn đạn chì, thuộc súng săn, không thuộc vũ khí quân dụng và 01 khẩu súng bắn bi, thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm - đều là tang vật vi phạm hành chính. Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh H đã tiêu hủy.
Tại Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-P2 ngày 22 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh H truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về "Tội tàng trữ hàng cấm" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự và "Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng" quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh H thực hành quyền công tố, trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX:
Căn cứ:
Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 11, Điều 35 Pháp lệnh số 16 ngày 30/6/2011 quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm Tội tàng trữ hàng cấm và Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù về Tội tàng trữ hàng cấm và từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 18 tháng tù đến 23 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/11/2022.
- Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với cả hai tội.
- Về xử lý vật chứng: Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H 01 khẩu súng dài 52 cm có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2023 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H để xử lý theo thẩm quyền.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 đến ngày 25/11/2022, Nguyễn Văn B đã có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép trong nhà ở của B ở tại thôn P, xã T, huyện N, tỉnh H 04 khẩu súng các loại, trong đó có 01 khẩu súng tự chế, dài 52cm bắn đạn ghém cỡ 12 là vũ khí quân dụng và 11,655kg pháo nổ và pháo hoa nổ, thì bị Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh H phát hiện, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý hàng cấm, trong đó có pháo nổ, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi tàng trữ trái phép 11,655kg pháo nổ và pháo hoa nổ của bị cáo Nguyễn Văn B đủ yếu tố cấu thành "Tội tàng trữ hàng cấm" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng tự chế, dài 52cm bắn đạn ghém cỡ 12 là vũ khí quân dụng đủ yếu tố cấu thành "Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng" quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng VKSND tỉnh H truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Khi xem xét, quyết định hình phạt, HĐXX thấy:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người có thành tích trong phong trào "Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc", được UBND huyện N tặng giấy khen trong phong trào này, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình và dư luận xấu, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa pG. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ hàng cấm và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu, sở thích cá nhân. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm là phạt tù có thời hạn đối với cả hai hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung, phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước cũng như sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 10 triệu đồng đối với Tội tàng trữ hàng cấm và 10 triệu đồng đối với Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hình phạt bổ sung của bị cáo đối với hai tội là 20 triệu đồng, phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 191 và khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự,
Tịch thu cho tiêu hủy 01 khẩu súng dài 52 cm, có báng súng làm bằng gỗ dài khoảng 15,5 cm, nòng súng làm bằng kim loại dài khoảng 33,5 cm, phần tay cầm súng làm bằng gỗ dài khoảng 18 cm, phần thân súng làm bằng kim loại dài khoảng 12 cm, vòng cò súng làm bằng kim loại dài khoảng 9 cm, rộng khoảng 5 cm, cò súng làm bằng kim loại dài khoảng 2 cm, hiện đang bảo quản tại kho K153 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H. Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H xử lý vật chứng trên theo quy định của pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép 02 khẩu súng hơi bắn đạn chì, thuộc súng săn, không thuộc vũ khí quân dụng và 01 khẩu súng bắn bi, thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm Hành chính, chưa từng bị kết án về tội này nên Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 138 ngày 10/01/2023 đối với Nguyễn Văn B là có căn cứ.
Đối với người đàn ông đã bán 04 khẩu súng và 11,655kg pháo nổ và pháo hoa nổ cho Nguyễn Văn B, quá trình điều tra không xác định được họ tên tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.
Đối với 10.999,779 gam pháo nổ và pháo hoa nổ là vật chứng của vụ án hoàn trả lại sau giám định. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H đã thành lập hội đồng cho tiêu hủy là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với 02 khẩu súng hơi bắn đạn chì, thuộc súng săn, không thuộc vũ khí quân dụng và 01 khẩu súng bắn bi, thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm - đều là tang vật vi phạm hành chính. Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh H đã tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; khoản 1, khoản 5 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Điều 11, Điều 35 Pháp lệnh số 16 ngày 30/6/2011 quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm Tội tàng trữ hàng cấm và Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
2. Xử phạt:
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 07 (bẩy) tháng tù về Tội tàng trữ hàng cấm và 14 (mười bốn) tháng tù về Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/11/2022.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 10 triệu đồng đối với Tội tàng trữ hàng cấm và 10 triệu đồng đối với Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hình phạt bổ sung của bị cáo Nguyễn Văn B đối với hai tội là 20 triệu đồng.
3. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 khẩu súng dài 52 cm, có báng súng làm bằng gỗ dài khoảng 15,5 cm, nòng súng làm bằng kim loại dài khoảng 33,5 cm, phần tay cầm súng làm bằng gỗ dài khoảng 18 cm, phần thân súng làm bằng kim loại dài khoảng 12 cm, vòng cò súng làm bằng kim loại dài khoảng 9 cm, rộng khoảng 5 cm, cò súng làm bằng kim loại dài khoảng 2 cm, hiện đang bảo quản tại kho K153 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H. Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H xử lý vật chứng trên theo quy định của pháp luật.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2023 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện N; - VKSND tỉnh H; - Bị cáo; - Trại tạm giam Công an tỉnh H; - Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh H; - CQTHAHS-Công an tỉnh H; - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H; - Chi cục THADS huyện N; - Sở Tư Pháp tỉnh H; -Bộ phận HSNV-CA tỉnh H; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thanh Nhàn |