vanban.org

Bản án 15/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/3/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Van D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2023/HSST
Ngày 17/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạnh Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thể và ông Nguyễn Minh Tín

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với:

1/ Bị cáo: Lê Văn D (tên gọi khác: không), sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn 5, xã Quỳnh V, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ A; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; tạm giam: Không, tạm giữ: Từ ngày 28/11/2022 đến ngày 07/12/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2/ Bị hại: Anh Nguyễn Biển V, sinh năm 2004; Địa chỉ: Khối Hồng Th, phường Quỳnh H, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ A; vắng mặt.

3/ Người chứng kiến: Anh Đào Văn Th, sinh năm 2004; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn D, sinh năm 2003; nơi cư trú: tại thôn 5, xã Quỳnh V, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ A, làm việc tại bộ phận MC của Chi nhánh Công ty Honda Việt Nam tại Hà Nam thuộc Khu Công nghiệp Đồng Văn II, phường Duy Minh, thị xã Duy Tiên và ở trọ tại phòng 301B - Khu ký túc xá Công ty Honda Việt Nam thuộc tổ dân phố Thần Nữ, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên. Ở cùng phòng trọ với D có anh Nguyễn Biển V, sinh năm 2004 ở khối Hồng Th, phường Quỳnh Ph, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ A, anh Đậu Văn Th, sinh năm 2004 ở khối Tân H, phường Quỳnh Th, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ A và anh Hoàng Văn Ch, sinh năm 2003 ở xã Quỳnh L, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ A. Trong đó, V và D nằm cùng giường tầng (D nằm giường tầng 1, V nằm ở giường tầng 2).

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 26/11/2022, D ngủ dậy và làm vệ sinh cá nhân xong thì V cũng dậy đi vào nhà vệ sinh. Khi D đang thay quần áo chuẩn bị đi làm thì thấy tủ đồ cá nhân đặt cuối giường tầng 2 của V mở một cánh phía ngoài. Nhìn thấy chiếc ví của V để trong tủ nên D nảy sinh ý định lấy trộm tiền trong ví. Lợi dụng Vàng đang trong nhà vệ sinh, Th đang ngủ ở giường bên cạnh, D đứng lên thành giường tầng 1 cầm chiếc ví của V. D mở ví ra thấy ngăn nhỏ có 01 chiếc thẻ ATM của ngân hàng Agribank, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ. D lấy chiếc thẻ ATM ra khỏi ví rồi cất vào túi quần, sau đó bỏ lại ví của V vào vị trí cũ. Đến khoảng 5 giờ 20 phút cùng ngày, D cùng V đi bộ từ kí túc xá đến Công ty Honda để làm việc. Đến khoảng 06 giờ 45 phút cùng ngày, D đi ra cây ATM của ngân hàng Vietcombank đặt trong công ty để rút tiền bằng mật khẩu gồm 06 số, Do biết Vàng có ngày tháng năm sinh là ngày 19 tháng 02 năm 2004 nên D suy đoán mật khẩu sẽ trùng ngày sinh. D thao tác đăng nhập bằng các số “190204” là ngày tháng năm sinh của V thì mở được thẻ rồi kiểm tra trong tài khoản có khoảng hơn 8.000.000 đồng. Do thẻ ATM của ngân hàng Agribank khác hệ thống ngân hàng nên chỉ rút được tối đa 3.000.000 đồng/lần và bị trừ phí 3.300 đồng/lần. D rút 03 lần, lần thứ nhất hệ thống ngân hàng báo lúc 06h50p ngày 26/11 là 3.003.300đ, lần thứ hai hệ thống ngân hàng báo lúc 06h51p ngày 26/11 là 3.003.300đ và lần thứ ba hệ thống ngân hàng báo lúc 06h52p ngày 26/11 là 1.953.300đ. Tổng cộng D rút là 7.959.900đ (trong đó có 9.900đ là tiền phí dịch vụ rút tiền). Rút tiền xong, D quay lại làm việc bình thường. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi hết ca làm việc D cất chiếc thẻ ATM đã lấy trộm của V giấu vào tủ cá nhân của D ở phòng thay đồ trong Công ty rồi khoá lại. Trong khi ở công ty làm việc, V mở ví ra phát hiện bị mất thẻ ATM nên về phòng ở KTX để tìm nhưng không thấy. V kiểm tra điện thoại thấy có tin nhắn của ngân hàng vào thời điểm 06h51' ngày 26/11 báo biến động số dư (trừ tiền) nên khi D về đến phòng kí túc xá, V hỏi D "Có thấy thẻ ATM của mình không", D nói "Không thấy". Sau đó, V đi báo bảo vệ và Công an phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên. Do bị phát hiện nên khoảng 11h30' ngày 28/11/2022 D cầm số tiền 7.000.000đ để dưới gối trên giường ngủ tầng hai của V nhằm mục đích trả lại cho V nhưng không muốn V biết D là người đã trộm cắp. Còn số tiền 950.000 đồng, D đã chi tiêu cá nhân mình.

Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 7.000.000 đồng, gồm 14 tờ tiền Việt Nam mệnh giá mỗi tờ 500.000 đồng do Nguyễn Biển V tự nguyện giao nộp, được niêm phong trong phong bì ký hiệu BT1; 01 thẻ ATM của ngân hàng nông nghiệp và PTNT Việt Nam phát hành do Lê Văn D tự nguyện giao nộp, được niêm phong trong phong bì ký hiệu BT2.

Sau khi phát hiện bị mất chiếc thẻ ATM và số tiền 7.959.900đ, ngày 28/11/2022, anh Nguyễn Biển V đã làm đơn trình báo Công an phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên giải quyết theo quy định của pháp luật. Vụ việc được chuyển lên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên giải quyết.

Ngày 28/11/2022, Cơ quan CSĐT - Công an thị xã Duy Tiên đã lập biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu đen của anh Nguyễn Biển V. Kết quả thể hiện: Agribank: 06h50p ngày 26/11 TK 2802205359184 -3.003.300VND (857559). SD: 5.025.250 VND; Agribank: 06h51p ngày 26/11 TK 2802205359184 - 3.003.300VND (859824). SD: 2.021.950VND; Agribank: 06h52p ngày 26/11 TK 2802205359184 - 1.953.300VND (861816). SD: 68.650VND. Nội dung tin nhắn trên, Nguyễn Biển V giải thích: Sau khi đi làm về phòng ký túc xá, anh V thấy tin nhắn của ngân hàng Agribank gửi về điện thoại 03 tin nhắn liên quan đến việc trừ tiền trong thẻ ATM. Tổng cộng 03 lần rút tiền bị trừ là 7.959.900 đồng.

Ngày 02/12/2022, Cơ quan CSĐT - Công an thị xã Duy Tiên đã ra Yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã Duy Tiên định giá tài sản đối với 01 chiếc thẻ ATM của ngân hàng nông nghiệp và PTNT Việt Nam phát hành, mặt trước màu xanh, mặt sau màu đỏ, trên mặt trước có dập nổi số thẻ 9704053025768622 mang tên NGUYEN BIEN V.

Tại Bản Kết luận số 67/KL - HĐ về việc định giá tài sản trong TTHS ngày 12/12/2022 Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã Duy Tiên kết luận: Chiếc thẻ ATM của ngân hàng nông nghiệp và PTNT Việt Nam phát hành, mặt trước màu xanh, mặt sau màu đỏ, trên mặt trước có dập nổi số thẻ 9704053025768622 mang tên NGUYEN BIEN V có giá trị 50.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 959.900 đồng mà Lê Văn D rút trong thẻ ATM của anh Nguyễn Biển V, trong đó có 950.000 đồng mà D đã ăn tiêu và 9.900 đồng phí dịch vụ rút tiền: Quá trình điều tra, Lê Văn D đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Biển V số tiền 959.900 đồng. Anh V đã nhận đủ tiền bồi thường.

Ngày 07/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã xử lý vật chứng, trả lại anh Nguyễn Biển Vàng là chủ sở hữu hợp pháp chiếc thẻ ATM của ngân hàng nông nghiệp và PTNT Việt Nam, mang tên NGUYEN BIEN V và số tiền 7.000.000 đồng. Anh V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 02/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diệnViện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn D mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn có quan điểm về trách nhiệm dân sự và án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm, ban hành các văn bản tố tụng đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác như: Biên bản thu giữ vật chứng; Kết luận giám định. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 26/11/2022, tại phòng 301B - Khu ký túc xá Công ty Honda Việt Nam thuộc tổ dân phố Thần Nữ, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, lợi dụng anh Nguyễn Biển V (người cùng phòng) sơ hở trong việc quản lý tài sản, Lê Văn D đã lén lút lấy chiếc thẻ ATM của ngân hàng nông nghiệp và PTNT Việt Nam của anh V để trong chiếc ví trong tủ đồ cá nhân đặt cuối giường tầng 2 trong phòng 301B, sau đó đến khoảng 06 giờ 45 phút cùng ngày, Duy đi ra cây ATM của ngân hàng Vietcombank rút trộm số tiền 7.959.900 đồng trong thẻ ATM của anh V để tiêu xài. Tổng cộng giá trị tài sản mà Lê Văn D trộm cắp của anh Nguyễn Biển V là 8.009.900 đồng (trong đó 7.959.900 đồng tiền trong thẻ và 50.000 đồng trị giá chiếc thẻ ATM).

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 02/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt;

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này là "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng". Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi bị phát giác, bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đối với bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ những phân tích và nhận định trên, HĐXX nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử lý trước pháp luật để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Song do bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng nên sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần ấn định mức hình phạt phù hợp và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo hiện tại không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế và pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận với bị hại. Nay không ai có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên xử lý trong giai đoạn điều tra nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/3/2023).

Giao bị cáo Lê Văn D cho Ủy ban nhân dân xã Quỳnh V, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ A tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Văn Duy phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ