vanban.org

Bản án 15/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Trần Văn D: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HSST
Ngày: 22/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Thành

2. Bà Thái Thị Thủy Tiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 86/2022/TLST- HS ngày 22 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh năm 1973 tại Q. Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Q; Nơi cư trú: không ổn định; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Th, sinh năm không rõ (đã chết) và bà Bùi Thị Th, năm sinh 1937 (còn sống); gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; vợ là Tạ Thị Ngọc L, sinh năm 1999 và chưa có con.

- Về nhân thân: Ngày 11/04/1990, bị Toà án nhân dân huyện Bến Hải, Q xử 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và “Trốn khỏi nơi giam”.

- Tiền án:

+ Ngày 11/07/1992 bị Toà án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Q xử phạt 37 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”.

+ Ngày 21/12/1993 bị Toà án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Q xử phạt 30 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”.

+ Ngày 25/04/1998 bị Toà án nhân dân tỉnh Q xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 22/06/2001 bị Toà án nhân dân tỉnh Q xử phạt 6 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 27/03/2007 bị Toà án nhân dân huyện Vĩnh Linh, Q xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 16/07/2010 bị Toà án nhân dân huyện Gio Linh, Q xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 10/08/2010 bị Toà án nhân dân huyện Hướng Hoá, Q xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Ngày 25/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/9/2022 đến ngày 12/9/2022 bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Cẩm Mỹ cho đến nay.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại:

Công ty TNHH MTV Đ

Địa diện theo ủy quyền: Ông Lê Quốc B, sinh năm 1968 – Phó giám đốc Điện lực C (vắng mặt).

Địa chỉ liên lạc: khu Trung tâm hành chính huyện C, khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Võ Quang D, sinh năm 1977(vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Q.

2. Ông Phan Văn T, sinh năm 1965 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 02/9/2022, bị cáo Trần Văn D điều khiển xe mô tô biển số: 74B1-295.88 lưu thông từ thành phố Biên Hòa về xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, khi đi vào Trung tâm hành chính ấp S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai hì phát hiện bên trong sân Điện lực C có nhiều cuộn dây điện nên nảy sinh ý định trộm bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, bị cáo dựng xe mô tô ngoài hàng rào cách cổng vào khoảng 04m rồi leo vào bên trong sân, đi lại chỗ có tấm bạt phủ lên thì nhìn thấy có một số cuộn dây điện gồm nhiều khoanh nhỏ xếp chồng lên nhau nên bị cáo đã bê 13 cuộn dây điện luồn qua khe hở giữa 02 song sắt của hàng rào Điện lực C đưa ra ngoài đường. Sau đó, bị cáo chất 06 cuộn lên xe chở đi, khi đến vòng xoay C thì bị lực lượng Công an thị trấn L phát hiện bắt giữ.

Tại bản Kết luận giám định giá trị tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Cẩm Mỹ kết luận:

+ 19 sợi dây điện ký hiệu CV95, tổng trọng lượng 158kg có giá trị: 17.380.000 đồng.

+ 03 sợi dây điện ký hiều CV120, tổng trọng lượng 27kg có giá trị: 3.510.000 đồng.

+ 02 sợi dây điện ký hiệu CV150, tổng trọng lượng 19,5kg có giá trị là: 2.925.000 đồng.

+ 02 sợi dây điện ký hiệu CV185, tổng trọng lượng 32kg có giá trị là: 4.800.000 đồng.

Tài sản thiệt hại có tổng giá trị 28.615.000 đồng (hai mươi tám triệu sáu trăm mười lăm nghìn).

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của Trần Văn D là do bị cáo cần tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

- Vật chứng vụ án: 13 cuộn dây điện trong đó có 26 sợi dây điện rời nhau, loại dây điện lõi đồng, vỏ nhựa, có tổng trọng lượng 236,5kg gồm:

+ 19 sợi dây điện ký hiệu CV95, tổng trọng lượng 158kg.

+ 03 sợi dây điện ký hiệu CV120, trọng lượng 27kg.

+ 02 sợi dây điện ký hiệu CV150, trọng lượng 19,5kg.

+ 02 sợi dây điện ký hiệu CV185, trọng lượng 32kg

Đây là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Công ty Điện lực Đồng Nai.

+ Xe mô tô biển số 71B4 - 295.88 là tài sản hợp pháp của ông Võ Quang D, sinh năm: 1977, thường trú: thôn V, huyệ T, huyện G, tỉnh Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại cho ông Dũng.

+ Điện thoại di động hiệu OPPO màu đen là của hợp pháp của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại cho bị cáo

+ Điện thoại di động hiệu Samsung A02 màu xanh. Quá điều tra xác định đây là của hợp pháp ông Phan Văn T, sinh năm: 1965, thường trú: khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả lại cho ông Tướng.

- Về trách nhiệm dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đồng Nai đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Cáo trạng số 04/CT- VKS – CM ngày 22 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Văn D về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Dmức án: 03 năm đến 04 năm tù giam.

Phần trách nhiệm dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Phần vật chứng đã xử lý xong nên không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Phần tranh luận bị cáo trình bày không có ý kiến gì về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Phần trình bày lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình vì vợ bị cáo sắp tới ngày sinh và hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, lợi dụng lúc không có người trông coi, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 26 sợi dây điện rời nhau, loại dây điện lõi đồng, vỏ nhựa, có tổng trọng lượng 236,5kg của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đ thì bị lực lượng Công an thị trấn L phát hiện bắt giữ. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp theo Bản kết luận định giá số 36/KL-HĐĐG ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ xác định có giá trị 28.615.000 đồng (hai mươi tám triệu sáu trăm mười lăm nghìn). Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa trùng khớp với lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai người bị hại, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nên hành vi do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số 04 ngày 22/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là một công dân có đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đ. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp gây thiệt hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây hoang mang trong cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu và đã nhiều lần bị đưa ra xét xử về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đây được xem là tình tiết để đánh giá nhân thân của bị cáo khi quyết định mức hình phạt dành cho bị cáo.

Về hình phạt: nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo lại mình trở thành một người có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Các vấn đề khác:

- Về trách nhiệm dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Đồng Nai đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét

- Về vật chứng vụ án: đã xử lý xong và phù hợp với quy định của pháp luật nên không xem xét.

- Đối với ông Võ Quang D và ông Phan Văn T đã nhận lại tài sản của mình và không có ý kiến gì nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

Bị cáo Trần Văn D: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2022.

- Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

- Về vật chứng vụ án: đã xử lý xong không xem xét.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ