vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn H 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MƯỜNG LAY
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày 06/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thân Văn Hàm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lâm Hữu Thảo.

2. Bà Đỗ Thị Thư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Tất Lơ - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thi Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 26/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HS ngày 24/8/2023 đối với bị cáo:

H và tên: Lường Văn H

Tên g i khác: không

Sinh năm 1999, tại: Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã LN, thị xã Mường Lay, tỉnh Điên Biên.

Dân tộc: Thái;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ văn hóa: 8/12.

Tiền án: 01;

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/01/2022 bị kết án về Tội trộm cắp tài sản; Chưa bị xử phạt hành chính;

Chức vụ Đảng, đoàn thể: không.

Con ông: Chưa xác định được bố.

Con bà: Lường Thị T - Sinh năm: 1964;

Gia đình bị cáo có 03 anh em. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

Bị cáo chưa có vợ; bị cáo sống chung như vợ chồng và có 01 con sinh năm 2018 với chị Lò Thị T1.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: H và tên: Chị Lường Thị Q - Sinh năm 1975; Địa chỉ: Bản TS, xã LN, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên. (Có mặt).

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- H và tên: Chị Lường Thị P - Sinh năm: 1983;

Địa chỉ: Bản L, xã LN, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt không có lí do).

- H và tên: Anh Tòng Văn T - sinh năm 1978:

Địa chỉ: Bản L, xã LN, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 17/4/2023, Lường Văn H đi xe máy Honda Wave màu trắng - đen, biển kiểm soát 27B2-217.57 đến nhà chị Lường Thị Q (Sinh năm 1975; địa chỉ: Bản TS, xã LN, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên) để vay tiền nhưng chị Q không cho vay. Bị cáo H thấy chị Q có chiếc điện thoại di động mới nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, H quan sát thấy chị Q có dấu hiệu say rượu và buồn ngủ nên đã đi về. Đến 14 giờ 00 phút cùng ngày, H quay lại nhà chị Q thấy cổng nhà không khóa, chị Q đang ngủ trên ghế còn chiếc điện thoại để bên cạnh người chị Q, H mở cổng đi vào nhà, dùng tay lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài điều khiển xe về nhà. Khi đi đến giữa cầu bản TS, xã LN, thi xã Mường Lay, bị cáo lấy chiếc điện thoại vừa trộm cắp được tháo ốp và sim ném xuống suối. Trong khi tháo ốp điện thoại thì bị cáo thấy bên lưng điện thoại có 1.200.000đ gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ. Bị cáo cất tiền và điện thoại vào túi quần rồi tiếp tục đi xe máy đến khu vực bản L, xã LN, thị xã Mường Lay, bị cáo cất giấu điện thoại vào bụi cây ven đường và dùng 01 tờ tiên mệnh giá 200.000đ từ số tiền vừa trộm cắp được mua Heroine và đồ ăn nước uống.

Sau khi ngủ trưa dậy, chị Lường Thị Q phát hiện bị mất tài sản nên trình báo Công an xã LN, thị xã Mường Lay. Ngày 17/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay tiếp nhận tin báo về tội phạm do Công an xã LN chuyển đến. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay đã tiền hành các biện pháp kiểm tra, xác minh làm rõ. Cùng ngày 17/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Quyết định tạm giữ đối với bị cáo Lường Văn H khi bị cáo đang ăn uống ở bản HL, xã LN, thị xã Mường Lay. Quá trình làm việc bị cáo Lường Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, mục đích thực hiện việc trộm cắp tài sản là để có tiền sử dụng ma túy và tiêu sài cá nhân.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay đã tạm giữ của bị cáo Lường Văn H: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng, đen BKS: 27B2-217.57 số khung RLHJA3924MY177939, số máy JA39E-2296090 xe đã sử dụng (không kiểm tra chi tiết bên trong máy); 01 chiếc điện thoại di động bàn phím ACE màu đen, số IMEI1: 359053915838680; số IMEI2: 359053915838698 bên trong có thẻ sim số 0876.842.435; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 12 màu xanh, số IMEI1: 863780060836544; số IMEI2:863780060836551 điện thoại đã sử dụng không có thẻ sim; tiền Việt Nam đang lưu hành là: 1.000.000đ (Một triệu đồng).

Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 12 màu xanh đã qua sử dụng và tiền Việt Nam là: 1.000.000đ (Một triệu đồng), chủ sở hữu hợp pháp là chị Lường Thị Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 07/QĐ-VKSML, ngày 11/7/2023 bằng hình thức trả lại cho chị Q.

Đối với 01 điện thoại di động bàn phím ACE màu đen bên trong có thẻ sim số 0876.842.435, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 07/QĐ-VKSML, ngày 11/7/2023 bằng hình thức trả lại cho bị cáo Lường Văn H.

Tại bản kết luận định giá tài sản số:184/KL-HDĐGTS ngày 19/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Mường Lay kết luận: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 12 màu xanh có giá trị tại thời điểm định giá là 4.600.000đ (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luật giám định số: 702/KL-KTHS, ngày 28/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận 02 tờ tiền mệnh giá 500.000đ gửi giám định là tiền thật.

Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn H một lần nữa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSML ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lường Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa khi trình bày lời luận tội, đại diện VKSND thị xã Mường Lay đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự; về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu xem xét; về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho chị Lường Thị P 01 chiếc xe máy HONDA wave Alpha màu đen, trắng BKS: 27B2-217.57; bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tự bào chữa cũng như không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về bản Luận tội. Lời nói sau cùng của bị cáo ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa bị hại chị Lường Thị Q khai đã nhận lại được chiếc điện thoại và số tiền 1.200.000đ, bị hại không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường, bị hại không yêu cầu gì về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Trong giai đoạn điều tra cũng như trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hiện quan điểm rõ ràng, việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn H đã khai nhận hành vi vi phạm của bản thân, bị cáo thừa nhận vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 17/4/2023 tại bản TS, xã LN, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên bị cáo có lấy trộm 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 12 màu xanh có giá trị 4.600.000đ và 1.200.000đ tiền mặt của chị Lường Thị Q với mục đích để chi tiêu cá nhân và mua ma túy để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp hiện trường của vụ án, phù hợp lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Do vậy HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lường Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản của chủ sở hữu, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần xử nghiêm minh để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng giáo dục răn đe người khác có ý thức chấp hành pháp luật.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án chưa được xóa án tích cụ thể như sau: Ngày 06/01/2022 Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xử Lường Văn H 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 22/10/2022. Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản ngày 17/4/2023 bị cáo chưa được xóa án tích. Do vậy HĐXX áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo đã tích cực tác động để gia đình bị cáo trả cho bị hại số tiền 200.000đ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

Từ những phân tích về hành vi vi phạm của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân động cơ mục đích của bị cáo. Xét thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở cần chấp nhận. HĐXX áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do đó HĐXX không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

. Biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng đen BKS: 27B2-217.57, số khung RLHJA3924MY177939 số máy JA39E-2296090 xe đã xử dụng là phương tiện mà bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi pham tội. Qua điều tra xác minh chủ sở hữu chiếc xe máy là chị Lường Thị P chị gái của bị cáo, Chị P để xe ở nhà nên bị cáo đã tự ý lấy xe máy đi, chị P không biết bị cáo sử dụng vào việc gì nên HĐXX trả lại chiếc xe máy nêu trên cho chị P theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động bàn phím ACE màu đen, số IMEI1: 359053915838680; số IMEI2: 359053915838698 bên trong có thẻ sim số 0876.842.435 thu giữ của bị cáo. Chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 12 màu xanh, số IMEI1: 863780060836544; số IMEI2:863780060836551 điện thoại đã sử dụng không có thẻ sim và số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) đây là tài sản mà bị cáo đã trộm cắp của bị hại, nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Q là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản tài sản mà bị cáo lấy trộm, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập xử lý.

. Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với chị Lường Thị P là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng, đen BKS: 27B2-217.57, chị P không biết việc bị cáo Lường Văn H sử dụng xe máy của mình làm phương tiện phạm tội, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với anh Tòng Văn T là người đã bán Heroine cho bị cáo Lường Văn H (theo lời khai của bị cáo H), T không thừa nhận việc đã bán ma túy cho H, việc mua bán chỉ diễn ra giữa T và H, không có ai biết và chứng kiến, ngoài lời khai của bị cáo Lường Văn H thì không có các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh việc bán Heroine của T. Như vậy, không đủ căn cứ để chứng minh T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra tiếp tục thu thập tài liệu chứng cứ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý bằng vụ án khác, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý Tòng Văn T trong vụ án này.

. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt đối với bị cáo Lường Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo. Ngoài ra đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, vật chứng và các vấn đề khác là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn H 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự:

- Trả cho chị Lường Thị P (Có địa chỉ nêu trên): 01 (một) xe máy đã qua sử dụng nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng, đen Biển kiểm soát: 27-B2 217.57, số khung: RLHJA3924MY177939, số máy: JA39E-2296090 (Không kiểm tra chi tiết bên trong xe máy và tính năng hoạt động của xe máy trong quá trình giao nhận).

(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2023).

- Chấp nhận biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 12/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay cho chủ sở hữu tài sản là chị Lường Thị Q (Theo Quyết định xử lý vật chứng số: 07/QĐ-XLVC, ngày 11/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên).

- Chấp nhận biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 12/7/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay cho chủ sở hữu tài sản là bị cáo Lường Văn H (Theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 05/QĐ-XLVC, ngày 11/5/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên).

3. Về trách nhiệm dân sự:

Chấp nhận đề nghị của bị hại về việc không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; Bị cáo Lường Văn H phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/9/2023). Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tai phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về phần liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết Bản án.

Cỡ chữ