- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN QUANG HƯNG - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan tổ chức nhận được bản án và quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HS-ST Ngày 06-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kiều Dâng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2023/HSST-QĐ ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Quang H, sinh ngày 11/11/1967 tại Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 15/40 NHT, phường GV, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số 04/18 CCL, phường MK, quận HB, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 10/10; nghề nghiệp: Lái xe; giới tính: Nam; quốc tịch: ViệtNam; dân tộc: Kinh;tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Quảng, đã chết; con bà Nguyễn Thị Thẹn, sinh năm 1942; có vợ là Nguyễn Thị Thanh Sâm, sinh năm 1969, có hai con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/12/2022; có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH AVN; địa chỉ: Số 30, đường BBTT, phường SK, quận TP, thành phố Hồ Chí Minh;
+ Người đại diện theo pháp luật: Ông FY, sinh năm 1972–Chức vụ Tổng giám đốc;
+ Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Ông Vũ Hồng QU; sinh năm 1996, địa chỉ: Tổ 7, khu NT, phường NK, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh (Giấy ủy quyền số AL/2021/088 ngày 30/8/2021), vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Vũ Ngọc B, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/10/2022, Nguyễn Quang Hđến Trung tâm bách hóa tổng hợp và siêu thị Aeon chi nhánh Hải Phòng có địa chỉ tại phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (thuộc Công ty TNHH AVN, 100% vốn nước ngoài) với mục đích trộm cắp tài sản. Tại khu vực tầng 1, lợi dụng sơ hở của nhân viên, H đến các quầy sản phẩm lấy thực phẩm, hoa quả, bánh kẹo cho vào một túi môi trường Aeon Eco bày bán tại trung tâm và 01 túi gạo ST25. Sau đó, H đi qua cửa số 4 mà không thanh toán số hàng trên thì bị lực lượng an ninh của Trung tâm thương mại kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật và giao cho Công an phường Kênh Dương, quận Lê Chân để xử lý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 100 ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân, Hải Phòng kết luận: Tổng giá trị hàng hóa H trộm cắp là 3.255.000 đồng.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/CT-VKS-P3 ngày 13/01/2023 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Quang Hvề “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc truy tố xét xử bị cáo là không oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 9-12 tháng cải tạo không giam giữ về “Tội trộm cắp tài sản”; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
+ Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tuy có công việc nH thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về bồi thường dân sự: Công ty TNHH AVN đã nhận lại tài sản trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
+ Về vật chứng: Tài sản bị cáo trộm cắp đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra giải quyết.
+ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến đối đáp, tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin được hưởng khoan hồng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội lao động, đảm bảo cuộc sống cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại là Công ty TNHH AVN vắng mặt, người làm chứng là anh Vũ Ngọc B vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy, bị hại, người làm chứng đã có đầy đủ lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng việc Siêu thị AVN, Chi nhánh Lê Chân, Hải Phòng, sơ hở trong việc quản lý, thanh toán hàng hóa, ngày 08/10/2022, Nguyễn Quang H đã lén lút chiếm đoạt một số tài sản là hàng tiêu dùng trị giá 3.255.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng), khi mang ra khỏi Siêu thị thì bị bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư tại thành phố Hải Phòng mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi lại được và trả cho chủ sở hữu, phạm tội nH gây thiệt hại không lớn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách lybị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giaobị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Cần áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo cải tạo không giam giữ. Tuy nhiên, cũng cần phải quyết định một mức hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để đảm tính răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo tuy làm lái xe nH thu nhập thấp, không ổn định nên khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ được miễn việc khấu trừ thu nhập.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy hoàn cảnh bị cáo là lao động chính trong gia đình, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về bồi thường dân sự:
Công ty TNHH AVN đã nhận lại tài sản trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do vậy, không đặt ra trách nhiệm bồi thường đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với số tài sản do Nguyễn Quang H trộm cắp thuộc sở hữu của Công ty TNHH AVN, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại Công ty TNHH AVN nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý vật chứng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i , s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về “Tội trộm cắp tài sản”. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan tổ chức nhận được bản án và quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Nguyễn Quang H cho Ủy ban nhân dân phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Gia đình bị cáo Nguyễn Quang H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Quang H.
Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Quang H kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3.Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - TANDCC; VKSNDCC; - Vụ 1 – TANDTC; - VKSND TP Hải Phòng; - PV06 Công an TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TPHP; - Bị cáo; - Bị hại; - Phòng KTNV và THA; - UBND phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, Hải Phòng; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |