vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Kim P phạm tội “Buôn lậu”.

Áp dụng: điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 nƣớc CHXHCN Việt Nam. Xử phạt: Vũ Thị Kim P 09 (chín) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Kim P tội “Buôn lậu” - phạm tội buôn lậu (điều 188 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Kim P phạm tội “Buôn lậu”.
  • Căn cứ chính? Điều 188 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày: 17 - 3 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc L

Thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn An Hữu

2. Ông Võ Văn Ngân

3. Ông Lƣơng Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dự – Thƣ ký Tòa án nhân dân tỉnh An

Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

1. Ông Phạm Hải Cảng – Kiểm sát viên

2. Bà Trịnh Thị Mỹ Tâm – Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2022/TLST–HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/HSST- QĐ ngày 31/01/2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 10/2023/TB-TA ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đối với bị cáo:

Vũ Thị Kim P; sinh ngày: 01/01/1985; nơi sinh: huyện L, tỉnh Bình Phƣớc; nơi cƣ trú: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phƣớc; chỗ ở: ấp 1 B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phƣớc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo phật; Nghề nghiệp: Kinh doanh (Giám đốc Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu); trình độ học vấn: 7/12; cha: Vũ Văn T, sinh năm 1944 (đã chết); mẹ: Lƣu Thị T, sinh năm 1950; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là ngƣời thứ sáu; chồng: Trần L, sinh năm 1980 (đã ly hôn 2008); chồng sau Trƣơng Hồng H, sinh năm 1983 (đã ly hôn năm 2015) và có 03 ngƣời con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2014.

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống chung với cha mẹ, học hết lớp 7 nghỉ, phụ giúp gia đình. Năm 2018, là giám đốc Công ty Toàn Cầu cho đến nay.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2022 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang và có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa:

1. Luật sƣ Nguyễn Minh Lệ - Văn phòng Luật sƣ Minh Phúc – thuộc Đoàn Luật sƣ tỉnh An Giang (có mặt).

2. Luật sƣ Vũ Thế Hiệp – Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV LIVELAW, thành phố Hồ Chí M (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Hùng D, sinh năm: 197; nơi cƣ trú: ấp L, phƣờng L, thị xã T, tỉnh An Giang - Vắng mặt.

2. Nguyễn Văn M, sinh năm 1990 (vắng mặt);

3. Nguyễn Hùng A, sinh năm 1949 (vắng mặt);

Cùng nơi cƣ trú: số 36, tổ 2, ấp L, phƣờng L, thị xã T, tỉnh An Giang .

3. Nguyễn Hoàng L, sinh năm: 1980; Nơi cƣ trú: ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vũ Thị Kim P là Giám đốc Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu, địa chỉ: ấp 1B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phƣớc (gọi tắt là Công ty Toàn Cầu) đƣợc Sở Kế hoạch và đầu tƣ tỉnh Bình Phƣớc cấp giấy phép kinh doanh ngày 16/10/2018, với ngành nghề kinh doanh là bán buôn đồ uống. Ngày 30/9/2019, P ký hợp đồng số 000006/19 với Công ty T.D.M TRADE INTERNATIONAL CO,LTD có trụ sở tại Campuchia, mua 100.000 thùng nƣớc giải khát hiệu Mirinda green cream flavor (màu xanh), xuất xứ Campuchia và ngày 01/11/2019 P ký hợp đồng số 01TC – RB/19 với Công ty SNMR TRADING CO,LTD có trụ sở tại Campuchia, mua 30.000 thùng nƣớc giải khát tăng lực hiệu Redbull xuất xứ Thái Lan để nhập khẩu về Việt Nam bán lại.

P thuê Lại Văn T thực hiện việc khai báo hàng hóa nhập khẩu trên hệ thống điện tử (VNACCS) đối với 20.000 thùng nƣớc giải khát hiệu Mirinda green cream flavor (màu xanh), trên hai tờ khai hải quan, đƣợc hệ thống dữ liệu điện tử phản hồi tự động, xác định việc phân luồng kiểm tra là luồng vàng, cụ thể:

- Ngày 04/11/2019 thực hiện tờ khai số 102967645800, khai báo 10.000 thùng Mirinda màu xanh, đƣợc vận chuyển trên hai phƣơng tiện ghe biển soát AG-03931 và ghe biển kiểm soát AG-10873. Cùng ngày, Công ty Toàn Cầu khai bổ sung lần 01 với nội dung thay đổi ghe mang biển kiểm soát AG-10873 bằng ghe mang biển kiểm soát AG-10053 trên tờ khai số 102967645801 (không thay đổi số lƣợng, loại hình nhập khẩu).

- Ngày 06/11/2019 thực hiện tờ khai số 102972519420 khai báo 10.000 thùng Mirinda màu xanh, đƣợc vận chuyển trên hai phƣơng tiện ghe biển kiểm soát AG - 10873 và ghe biển kiểm soát AG - 06788.

Sau đó, P nhờ Phạm Thanh A (Giám đốc Công ty TNHH MTV SX TMDV M Tiến) thuê ba phƣơng tiện với giá 30.000.000 đồng/1 chuyến, gồm: Ghe biển kiểm soát AG - 03931 do Nguyễn Hùng D điều khiển; ghe biển kiểm soát AG - 06788 do Nguyễn Văn M điều khiển; ghe biển kiểm soát AG -10873 do Nguyễn Hoàng L điều khiển đi bằng đƣờng sông qua cửa khẩu Khánh Bình, thuộc huyện An Phú, tỉnh An Giang sang Campuchia chở 20.000 thùng nƣớc giải khát hiệu Mirinda và 30.000 thùng nƣớc giải khát hiệu Redbull từ Campuchia về Việt Nam.

Sáng ngày 09/11/2019, ba phƣơng tiện trên chở hàng hóa nhập cảnh về Việt Nam đến khu vực giám sát đƣờng sông của Chi cục Hải quan Cửa khẩu Khánh Bình neo đậu làm thủ tục nhập khẩu; đồng thời P nhờ Phạm Thanh A đến Chi cục Hải quan cửa khẩu Khánh Bình nộp hồ sơ gồm: giấy giới thiệu của Công ty Toàn Cầu; hợp đồng, hóa đơn, bản kê hàng hóa nƣớc giải khát hiệu Mirinda green cream flavor liên quan đến hồ sơ hải quan của số lƣợng hàng hóa của hai tờ khai ngày 04/11/2019 và 06/11/2019 nêu trên để làm thủ tục nhập khẩu. Cùng ngày, Công ty Toàn Cầu tiếp tục khai bổ sung lần 2 với nội dung thay đổi ghe biển số AG - 10053 bằng ghe AG - 06788 và bổ sung lại ghe AG - 10873 trên tờ khai 102967645802 (không thay đổi về loại hàng nhập khẩu, số lƣợng hàng nhập khẩu). Trong thời gian công chức hải quan tiếp nhận hồ sơ và chờ lãnh đạo Chi cục phân công xử lý trên hệ thống thì An xin rút lại toàn bộ hồ sơ và hẹn ngày 11/11/2019 đến làm thủ tục hải quan. Chi cục Hải quan cửa khẩu Khánh Bình đã trả lại hồ sơ cho A cùng giấy giới thiệu của Giám đốc Công ty Toàn Cầu.

Ngày 11/11/2019, Công ty Toàn Cầu tiếp tục khai bổ sung lần thứ ba trên hệ thống điện tử với nội dung bổ sung phƣơng tiện ghe AG - 03931 (không thay đổi về loại hàng, số lƣợng hàng nhập khẩu đã khai trƣớc đó) tại tờ khai 102972519421. Đến ngày 12/11/2019, Công ty Toàn Cầu tiếp tục khai báo qua hệ thống VNACCS thêm 02 tờ khai mới gồm: Tờ khai số 102982316730 có nội dung khai báo số lƣợng 10.000 thùng mirinda màu xanh và tờ khai số 102982381130 có nội dung khai báo số lƣợng 6.000 thùng Mirinda màu xanh đƣợc vận chuyển trên 03 phƣơng tiện trên và đã nộp thuế giá trị gia tăng.

Tại các lần khai báo và khai bổ sung hàng hóa nhập khẩu trên hệ thống điện tử vào các ngày 04/11/2019, 06/11/2019 và 11/11/2019 nêu trên, Công ty Toàn Cầu đều không thực hiện khai báo hải quan điện tử đối với 30.000 thùng nƣớc tăng lực hiệu Redbull xuất xứ Thái Lan.

Qua đối chiếu trọng tải và nghi vấn Công ty Toàn Cầu có dấu hiệu buôn lậu (nộp hồ sơ thông quan hàng hóa rồi rút lại, khai bổ sung nhiều lần nhƣng chỉ khai thay đổi phƣơng tiện vận chuyển...), ngày 13/11/2019 Chi cục Hải quan cửa khẩu Khánh Bình quyết định chuyển hàng hóa sang luồng kiểm tra thực tế (luồng đỏ). Từ ngày 20/11/2019 đến ngày 22/11/2019, qua kiểm tra thực tế hàng hóa trên ba phƣơng tiện ghe biển kiểm soát AG - 03931, ghe biển kiểm soát AG

- 06788 và ghe biển kiểm soát AG - 10873 thể hiện số hàng hóa không đúng nhƣ khai báo hàng hóa nhập khẩu trên hệ thống điện tử của Công ty Toàn Cầu, cụ thể:

- Nƣớc giải khát hiệu Mirinda (loại GREEN CREAM FLAVOR, xuất xứ: Campuchia): 15.789 thùng và 1.339 lon (trên nhiều thùng có dán tem phụ của Công ty Toàn Cầu và Công ty TNHH MTV SX TMDV M Tiến);

- Nƣớc giải khát hiệu Mirinda (loại ORANGE FLAVOR, xuất xứ: Campuchia): 1.496 thùng và 140 lon (trên nhiều thùng có dán tem phụ của Công ty Toàn Cầu);

- Nƣớc giải khát tăng lực hiệu Red Bull: 29.551 thùng và 1.934 lon xuất xứ Thái Lan (trên nhiều thùng dán tem phụ của Công ty Toàn Cầu).

Trong đó, Công ty Toàn Cầu chỉ khai báo Hải quan trên hệ thống điện tử đối với 15.789 thùng, 1339 lon Mirinda loại GREEN CREAM FLAVOR, xuất xứ: Campuchia); Số còn lại gồm: 1.496 thùng và 140 lon nƣớc giải khát hiệu Mirinda loại ORANGE FLAVOR (xuất xứ: Campuchia), 29.551 thùng và 1.934 lon nƣớc giải khát tăng lực hiệu Red Bull (xuất xứ Thái Lan), Công ty Toàn Cầu không có khai báo trên hệ thống điện tử . Đồng thời Công ty Toàn Cầu do P làm Giám đốc không xuất trình đƣợc bản chính, hóa đơn, chứng từ để chứng M tính hợp pháp về số hàng hóa và bộ hóa đơn chứng từ cung cấp cho Hải quan không phải bộ hóa đơn chứng từ trên hệ thống khai báo hải quan điện tử (gồm mặt hàng Mirinda màu xanh: Hợp đồng số 000006/19 ngày 30/9/2019, Hóa đơn số 000052/19 ngày 01/10/2019, Packing list theo hóa đơn số 000052/19 ngày 01/10/2019, hóa đơn số 000053/19 ngày 01/10/2019, Packing list theo hóa đơn số 000053/19 ngày 01/10/2019; mặt hàng nƣớc tăng lực Redbull: Hợp đồng số 01TC-RB/19 ngày 01/11/2019, Hóa đơn số 002TC/19 ngày 01/11/2019, Packing list theo hóa đơn số 002TC/19). Nhận thấy Công ty Toàn Cầu có dấu hiệu mua bán, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, cố ý không khai báo tên hàng, số lƣợng, chủng loại nên Chi cục Hải quan cửa khẩu Khánh Bình tiến hành lập biên bản tạm giữ toàn bộ tang vật, phƣơng tiện để xử lý.

Ngày 07/10/2022, Vũ Thị Kim P bị khởi tố điều tra.

Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 07/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh An Giang, xác định:

- Nƣớc giải khát hiệu Mirinda – GREEN CREAM FLAVOR: 15.789 thùng trị giá 2.302.320.402 đồng;

- Nƣớc giải khát hiệu Mirinda – GREEN CREAM FLAVOR: 1.339 lon trị giá 8.124.425 đồng;

- Nƣớc giải khát hiệu Mirinda – ORANGE FLAVOR: 1.496 thùng trị giá 218.143.728 đồng;

- Nƣớc giải khát hiệu Mirinda – ORANGE FLAVOR: 140 lon trị giá 850.500 đồng;

- Nƣớc giải khát tăng lực hiệu Red Bull: 29.551 thùng trị giá 6.151.956.731 đồng;

- Nƣớc giải khát tăng lực hiệu Red Bull: 1.934 lon trị giá 16.775.516 đồng.

Tổng giá trị hàng hóa là 8.698.181.302 đồng.

Kết luận giám định số 645/C09 Đ ngày 07/01/2020 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí M, kết luận:

1. Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” No:000052/19, đề ngày 01 tháng 10 năm 2019 ký hiệu A1 (nêu mục II.1)so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” No: 000052/19, đề ngày 01 tháng 10 năm 2019 ký hiệu M1 (nêu mục II.2) là không cùng nguồn gốc.

2. Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Packing list” No:000052/19, đề ngày 01/10/2019 ký hiệu A2 (nêu mục II.1) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Packing list” No:000052/19, đề ngày 01/10/2019 ký hiệu M2 (nêu mục II.2) là không cùng nguồn gốc.

3. Bốn (04) tài liệu: “Sales contract No: 000006/19, đề ngày 30 tháng 9 năm 2019 ký hiệu A7 (nêu mục II.1.); Tài liệu “Sales contract” No: 000006/19, đề ngày 30 tháng 9 năm 2019 ký hiệu M3, “Sales contract” No: 000006/19, đề ngày 30 tháng 9 năm 2019 ký hiệu M7 (nêu mục II.2.) là có cùng nguồn gốc.

4. Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, No: KHVN1910015437, đề ngày 10 tháng 10 năm 2019 ký hiệu A4 (nêu mục II.1.) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, No: KHVN 1910015457, đề ngày 10 tháng 10 năm 2019 ký hiệu M4 (nêu mục II.2) là có cùng nguồn gốc.

5. Chữ ký mang tên Tran Duy M hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” No: 000053/19, đề ngày 01 tháng 10 năm 2019 ký hiệu A5 (nêu mục II.1) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” No: 000053/19, đề ngày 01 tháng 10 năm 2019 ký hiệu M5 (nêu mục II.2) là không cùng nguồn gốc.

6. Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Packing list” No: 000053/19, đề ngày 01/10/2019 ký hiệu A6 (nêu mục II.1) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Packing list” No: 000053/19, đề ngày 01/10/2019 ký hiệu M6 (nêu mục II.2) là không cùng nguồn gốc.

7. Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, No: KHVN1910015437, đề ngày 10 tháng 10 năm 2019 ký hiệu A8 (nêu mục II.1) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, No: KHVN1910015437, đề ngày 10 tháng 10 năm 2019 ký hiệu M8 (nêu mục II.2) là có cùng nguồn gốc.

8. Tài liệu “Bản tự công bố sản phẩm” số: 01/TOÀN CẦU/2019, đề ngày 17 tháng 9 năm 2019 ký hiệu A9 (nêu mục II.1) so với hai (02) tài liệu: “Bản tự công bố sản phẩm” số: 01/TOÀN CẦU/2019, đề ngày 17 tháng 9 năm 2019 ký hiệu M9, M10 (nêu mục II.2) là không cùng nguồn gốc.

9. Không tiến hành giám định so sánh kết luận truy nguyên ngƣời ký đối với chữ ký mang tên Tran Duy M trên các tài liệu cần giám định (nêu mục II.1)

Kết luận giám định số 04/KLGĐ-PC09 (TL) ngày 19/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:

- Chữ ký mang tên Trần Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice”, số 000052/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A1) so với chữ ký mang tên Trần Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” số 000052/19 ngày 01/10/2019 có dấu Chi cục Hải quan cửa khẩu Khánh Bình (Ký hiệu: M1) là có cùng nguồn gốc.

- Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” số 000052/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (Ký hiệu: A1) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” số 000052/19 ngày 01/10/2019, có dấy Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu (ký hiệu:M3) là không cùng nguồn gốc.

- Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Packing list” đƣợc phát hành theo hóa dơn số 000052/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A2) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Packing list” đƣợc phát hành theo hóa đơn 000052/19 ngày 01/10/2019 (ký hiệu: M2) và “Packing list” đƣợc phát hành theo hóa đơn số 000052/19 ngày 01/10/2019 (ký hiệu: M4) là không cùng nguồn gốc.

- Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” số 000053/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A3) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” số 000053/19 ngày 01/10/2019, có dấu giáo lai Chi cục Hải quan cửa khẩu Khánh Bình (ký hiệu: M5) là có cùng nguồn gốc.

- Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” số 000053/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A3) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Invoice” số 000053/19 ngày 01/10/2019, có dấu Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu (ký hiệu: M7) là không cùng nguồn gốc.

- Chũ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Packing list” đƣợc phát hành theo hóa đơn số 000053/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A4) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục, nội dung trên tài liệu “Packing list” đƣợc phát hình theo hóa đơn số 000053/19 ngày 01/10/2019, có chữ M6 (ký hiệu: M6) và “Packing list” đƣợc phát hành theo hóa dớn số 000053/19 ngáy 01/10/2019, có dấu Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu (ký hiệu: M8) là không cùng nguồn gốc.

- Hình dấu bầu dục, chữ ký mang tên Tran Duy M trên các tài liệu “Invoice” số 000052/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A1); “Packing list” đƣợc phát hành theo hóa đơn số 000052/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A2); “Invoice” số 000052/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A3) và “Packing list” đƣợc phát hành theo hóa đơn số 000052/19 ngày 01/10/2019, do Vũ Thị Kim P giao nộp (ký hiệu: A4) đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in.

- Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục; Chữ ký mang tên YIM Sambo, hình dấu tròn, nội dung trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015437 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: A5) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục; Chữ ký mang tên YIM Sambo, hình dấu tròng, nội dung trên các tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015437 ngày 10/10/2019, có dấu giáp lai Chi cục Hải quan của cửa khẩu Khánh Bình (ký hiệu: M9) và giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, KHVN1910015437 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: M10) là có cùng nguồn gốc.

- Chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục; chữ ký mang tên YIM Sambo, hình dấu tròn, nội dung trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, KHVN1910015457 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: A6) so với chữ ký mang tên Tran Duy M, hình dấu bầu dục; chữ ký mang tên YIM Sambo, hình dấu tròn, nội dung trên các tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015457 ngày 10/10/2019, có dấu Chi cục Hải quan cửa khẩu Khánh Bình (ký hiệu: M11) và giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015457 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: M12) là có cùng nguồn gốc.

- Hình dấu tròn, chữ ký mang tên YIM Sambo trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015437 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: A5) so hình dấu tròn, chữ ký mang tên YIM Sambo trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015437 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: M10) do cùng con dấu đóng ra và do cùng một ngƣời ký ra.

- Hình dấu bầu dục, chữ ký mang tên Tran Duy M trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015437 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: A5) so với hình dấu bầu dục, chữ ký mang tên Tran Duy M trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015437 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: M10) do cùng con dấu đóng ra và do cùng một ngƣời ký ra.

- Hình dấu tròn, chữ ký mang tên YIM Sambo trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015457 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: A6) so với hình dấu tròn, chữ ký mang tên YIM Sambo trên tại liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015457 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: M12) do cùng con dấu đóng ra và do cùng một ngƣời ký ra.

- Hình dấu bầu dục, chữ ký mang tên Tran Duy M trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015457 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: A6) so vơi hình dấu bầu dục, chữ ký mang tên Tran Duy M trên tài liệu Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D của Campuchia, số KHVN1910015457 ngày 10/10/2019 (ký hiệu: M12) do cùng con dấu đóng ra và do cùng một ngƣời ký ra.

- Hình dấu bầu dục, chữ ký mang tên Tran Duy M trên tài liệu tờ giấy A4 về việc xác nhận giao thiếu hàng, bắt đầu từ chữ T.D.M TRANDE INTERNATIONAL CO.,LTD và kết thức bằng chữ TRAN DUY M, do Vũ Thị Kim P giao nộp ngày 01/5/2020 (ký hiệu: A7) và hình dấu bầu dục, chữ ký mang tên Tran Duy M trên tài liệu tờ giấy A4 về việc xác nhận và cam kết nguồn gốc hóa đơn số 000052/19, số 000053/19 ngày 01/10/2019, bắt đầu từ chữ T.D.M TRANDE INTERNATIONAL CO.,LTD và kết thúc bằng chữ TRAN DUY M, do Vũ Thị Kim P giao nộp ngày 01/5/2020 (ký hiệu: A8) là hình dấu đóng trực tiếp và chữ ký trực tiếp.

- Hình dấu bầu dục, chữ ký dƣới mục “FOR THE SELLER” trên tài liệu tờ giấy A4 bắt đầu bằng chữ Notice of return cargo for sales contract No: 000006/19 No: 01TTC/19 ngày 12/12/2019 (Ký hiệu: A9) và hình dấu tròn có chữ CÔNG TY TNHH MT XUẤT NHẬP KHẨU SẢN XUẤT THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ TOÀN CẦU, chữ ký mang tên Vũ Thị Kim P trên tài liệu tờ giấy A4 bắt đầu bằng chữ Notice of return cargo for sales contract No: 000006/19 No: 01TTC/19 (ký hiệu: A9) là hình dấu đóng trực tiếp và chữ ký trục tiếp.

- Hình dấu bầu dục, chữ ký ƣới mục “FOR THE SELLER” trên tài liệu “Sales Contract” số 01TC – RB/19 ngày 01/11/2019, có dấu giáp lai Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu (ký hiệu: A10) và hình dấu tròn có chữ CÔNG TY TNHHMTV XUẤT NHẬP KHẨU SẢN XUẤT THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ TOÀN CẦU, chữ ký mang tên Vũ Thị Kim P trên tài liệu “Sales Contract” số 01TC – RB/19 ngày 01/11/2019, có dấu giáp lai Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu (ký hiệu: A10) đƣợc ra bằng phƣơng pháp in.

- Hình dấu bầu dục, chữ ký dƣới mục “SNMR TRADING CO.,LTD” trên tài liệu “Invoice” số 002TC/19 ngày 01/11/2019, có dấu Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu (ký hiệu: A11) và hình dấu bầu dục, chữ ký dƣới mục “SNMR TRADING CO.,LTD” trên tài liệu “Packing list” theo hóa đơn số 002TC/19 ngày 01/11/2019, có dấu Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu (ký hiệu: A12) đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp in.

Kết quả tƣơng trợ tƣ pháp của Đại sứ quán Vƣơng quốc Campuchia và Hải quan Campuchia trả lời, thể hiện:

Công ty T.D.M TRADE INTERNATIONAL CO,LTD đã đăng ký trong hệ thống ƣu đãi thƣơng mại số 3898 NGÀY 20/9/2018 Bộ thƣơng mại; còn Công ty SNMR TRADING CO,LTD không đăng ký trong hệ thống ƣu đãi thƣơng mại tại Cục xuất nhập khẩu thuộc Tổng cục dịch vụ Thƣơng mại – Bộ thƣơng mại. Trong năm 2019 và 2020, các công ty bán hàng cho P (Công ty T.D.M TRADE INTERNATIONAL CO,LTD, Công ty SNMR TRADING CO,LTD) không có số liệu xuất nhập khẩu nào lƣu trữ trong hệ thống tự động dữ liệu hải quan.

Văn bản số 1268/TCHQ-TCCB ngày 13/4/2022, của Tổng cục Hải quan, ghi nhận:

- Hai tờ khai nhập khẩu số 102967645082 và 102972519421 của Công ty Toàn Cầu đối với nƣớc giải khát có gas Mirinda Green Cream Flavor, Lãnh đạo Chi cục đã phân công công chức kiểm tra hồ sơ, công chức đƣợc phân công đã thực hiện kiểm tra hồ sơ (kết quả ghi nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ). Hàng hóa chƣa có Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu (đối với trƣờng hợp kiểm tra thông thƣờng và kiểm tra chặt) nên chƣa đƣợc thông quan. Hiện tại 02 tờ khai này đã hoàn thành việc kiểm tra hồ sơ và đang chờ thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa;

- Chi cục Hải quan Cửa khẩu Khánh Bình khám 03 phƣơng tiện vận chuyển các lô hàng của Công ty Toàn Cầu theo thủ tục hành chính là phù hợp theo quy định của Luật xử lý hành chính;

- Công chức hải quan của Chi cục Hải quan cửa khẩu Khánh Bình chƣa thực hiện nghiệp vụ CKO trên hệ thống khi chuyển luồng đối với hàng hóa nhập khẩu của Công ty Toàn Cầu mặc dù lãnh đạo đã phê duyệt chuyển luồng kiểm tra.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSAG.P1 ngày 04/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố Vũ Thị Kim P về tội “Buôn lậu” theo điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đồng ý cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét do bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế nên mới vi phạm; hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, là mẹ đơn thân phải nuôi 3 con nhỏ trong lứa tuổi đi học và có ngƣời mẹ già yếu trên 70 tuổi; bị cáo biết sai trái và hối hận về việc làm của mình để xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố nhƣ Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hậu quả từ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, đề nghị với Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt Vũ Thị Kim P từ 08 năm tù đến 10 năm tù; đồng thời phạt bổ sung từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc số tiền 5.108.093.598 đồng (sau khi đã đƣợc bán theo quy định của pháp luật). Trả lại cho bị cáo số tiền 2.302.320.402 đồng (đây là hàng hóa hợp pháp đã đƣợc bán và định giá theo quy định của pháp luật). Trả lại: phƣơng tiện ghe gỗ biển kiểm soát AG - 10873, AG - 06788, AG - 03931 cho các ông Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Hùng A; Nguyễn Hùng D cùng những giấy tờ có liên quan; 01 lap top nhãn hiệu Dell màu đen, 01 máy in và scan nhãn hiệu Brother MFC-L3750CDW; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Macbook Pro, 01 (một) máy Scan hiệu ScanJet Pro 2000 S2; 01 (một) máy in HP laser MFP 135W màu trắng; 02 (hai) USB; cùng những giấy tờ không liên quan đến vụ án.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Thị Kim P:

Luật sƣ Nguyễn M Lệ trình bày: mặc dù bị cáo P thừa nhận sai trái nhƣng đề nghị HĐXX xem xét: bị cáo có Hợp đồng thƣơng mại với đối tác tại Campuchia với số lƣợng, chủng loại hàng hóa, thời gian, địa điểm giao nhận hàng. Thực tế số hàng nhập vào không quá số lƣợng, chủng loại trong hợp đồng đã ký kết. Vào ngày 15/11/2019, bị cáo đã khai báo về số lƣợng nƣớc Redbull, do bị cáo suy nghĩ quy định tại Điều 25 Luật Hải quan về thời hạn khai báo Hải quan là 30 ngày, đồng thời nếu không có CO mẫu D thì đƣợc quyền trả hàng nên bị cáo đã sai phạm. Chính vì việc hàng mới nhập về chỉ 10 ngày đã bị giữ nên bị cáo không thể có thời gian khắc phục thủ tục hồ sơ khai báo hải quan. Số hàng hóa trên 03 phƣơng tiện đều dừng đỗ, neo đậu tại nơi quy định để thực hiện khai báo hải quan theo quy định pháp luật, không né tránh. Số lƣợng hàng hóa bị thu giữ có cả hàng đã khai báo và nộp thuế, mặt hàng Redbull đều đã có dán tem nhãn của Hải quan Campuchia thể hiện đối tác đã thực hiện đúng hợp đồng và quy định, thế nhƣng hàng hóa đã bị giữ trong thời gian thực hiện khai báo hải quan đã làm mất đi khả năng khắc phục tính hợp pháp của hàng hóa. Do đó đã thể hiện bị cáo sai về thủ tục khai báo chứ không phải cố tình không khai báo; hàng hóa còn trong khu vực giám sát của Hải quan. Các Kết luận giám định cơ quan điều tra đã không thông báo cho bị cáo biết theo quy định. Luật sƣ đề nghị HĐXX xem xét đây không phải là dấu hiệu tội Buôn lậu mà chỉ là hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Luật sƣ Vũ Thế Hiệp trình bày: thống nhất với lời bào chữa của Luật sƣ đồng nghiệp. Việc giao dịch mua bán hàng hóa giữa các bên là thật và Hợp đồng thƣơng mại đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền công nhận để áp thuế nên đây là Hợp đồng hợp pháp. Doanh nghiệp đã thực hiện đúng thủ tục khai báo, không né tránh. Do đó hành vi của bị cáo chƣa đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn lậu”. Ngoài ra xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, phải nuôi 3 con nhỏ và mẹ già yếu, nếu tiếp tục cách ly và phạt tiền bị cáo sẽ gây khó khăn cho bị cáo và gia đình. Đề nghị HĐXX cân nhắc cho bản án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và chứng cứ trong hồ sơ vụ án: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng cũng nhƣ các chứng cứ đƣợc thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, Vũ Thị Kim P đã khai nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và thực hiện các hành vi nhƣ cáo trạng nêu. Lời khai của bị cáo phù hơp với các chứng cứ khác đã thu thập đƣợc. Bị cáo nhận thức rõ đƣợc trách nhiệm của bản thân khi thực hiện thủ tục nhập khẩu hàng hóa phải tuân thủ theo các quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật Hải quan, Điều 25 của Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính Phủ và khoản 6, 7 Điều 18 của Thông tƣ 38/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục Hải quan, thế nhƣng bị cáo không tuân thủ các quy định này nhằm mục đích đƣa hàng hóa qua biên giới nhƣng không phải chịu các loại thuế. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận Vũ Thị Kim P là Giám đốc Công ty TNHH MTV XNK SX TM DV Toàn Cầu đã có hành vi cố ý không khai báo tên hàng, số lƣợng, chủng loại hàng hóa là nƣớc giải khát hiệu Mirinda loại ORANGE FLAVOR số lƣợng 1.496 thùng, 140 lon và nƣớc giải khát hiệu Red Bull số lƣợng 29.551 thùng, 1934 lon từ Vƣơng quốc Campuchia về Việt Nam với tổng giá trị hàng hóa phạm pháp là 6.387.726.475 đồng nhằm thu lợi bất chính. Trong khi làm thủ tục đăng ký, khai báo hải quan tại Cửa khẩu quốc tế Khánh Bình, huyện An Phú đối với số hàng hợp pháp khác thì hành vi trên bị phát hiện. Do đó hành vi của Vũ Thị Kim P đã phạm tội “Buôn lậu” (trƣờng hợp phạm tội chƣa đạt) phạm vào điểm a khoản 4 Điều 188 và Điều 15 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Vũ Thị Kim P về tội danh và điều luật (đã viện dẫn) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với:

- Các đối tƣợng tên Tha, Phips do không rõ họ tên địa chỉ và sống ở Campuchia, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

- Lại Văn Tài, Phạm Thanh An, Nguyễn Văn M, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Hùng D là những ngƣời giúp làm thủ tục nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa thuê cho Vũ Thị Kim P từ Campuchia về Việt Nam, kết quả điều tra chƣa đủ căn cứ xác định đồng phạm với P mua bán, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm là phù hợp.

- Vũ Thị Kim P khai có đƣa cho Bồ Thị Vinh số tiền 6.000.000.000 đồng để giúp P giải quyết vụ việc liên quan đến hàng hóa bị tạm giữ. Kết quả điều tra chƣa có căn cứ xác định P, Vinh sử dụng số tiền trên vào việc làm trái pháp luật, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

- Vũ Thị Kim P, Phạm Thanh An chuyển tiền qua biên giới thông qua việc chuyển khoản đến các tài khoản của Trƣơng Thái Nguyên, Tăng Kim Ngân và Trƣơng Vạn Quốc mở tại Ngân hàng SACOMBANK Châu Đốc để Nguyên quản lý giao lại cho Tout ở Campuchia. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo Vũ Thị Kim P là ngƣời có đầy đủ nhận thức và năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo là giám đốc của một doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nên hơn ai hết bị cáo phải biết đƣợc các thủ tục khai báo hàng hóa khi thực hiện thủ tục hải quan cũng nhƣ nhận biết đƣợc mặt hàng bị cáo nhập khẩu cần phải có chứng nhận xuất xứ hàng hóa và cần thực hiện đúng quy trình khai báo cụ thể trƣớc khi lƣu hành trên thị trƣờng. Nhƣng vì hám lợi, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, mua lại số lƣợng hàng hóa với số lƣợng nƣớc giải khát rất lớn không rõ nguồn gốc xuất xứ để nhập lậu vào thị trƣờng nhằm hƣởng lợi. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thƣơng mại; xâm phạm đến an ninh đối nội, đối ngoại; những qui định về xuất, nhập khẩu dẫn đến hậu quả Nhà nƣớc không kiểm soát đƣợc hàng hóa nhập khẩu, gây thất thoát thuế xuất nhập khẩu của Nhà nƣớc. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, ngoài hình phạt chính cần áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, pham tội thuộc trƣờng hợp chƣa đạt; hàng hóa đang nằm trong khu vực giám sát hải quan, chƣa vào thị trƣờng nội địa nên hậu quả chƣa xẩy ra; bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo còn phải nuôi 3 con nhỏ trong lứa tuổi đi học. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về phần xử lý vật chứng và các biện pháp tƣ pháp:

Quá trình Cơ quan Hải quan kiểm tra, thu giữ: 15.789 thùng, 1339 lon Mirinda loại GREEN CREAM FLAVOR (xuất xứ: Campuchia); 1.496 thùng và 140 lon nƣớc giải khát hiệu Mirinda loại ORANGE FLAVOR (xuất xứ: Campuchia), 29.551 thùng và 1.934 lon nƣớc giải khát tăng lực hiệu Red Bull (xuất xứ Thái Lan). Số hàng hóa này đã tiến hành đấu giá đƣợc số tiền 7.410.414.000 đồng (Bảy tỷ bốn trăm mƣời triệu bốn trăm mƣời bốn nghìn đồng) hiện Cục Thi hành án dân sự đang quản lý theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản lập ngày 16/12/2022 từ tài khoản số: 3949.0.9007857.00000 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra tại Kho bạc Nhà nƣớc tỉnh An Giang sang tài khoản số: 3949.0.1052738.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, một phần hàng hóa còn lại bị hƣ hỏng nên phải tiêu hủy.

Xét thấy, theo Văn bản số 1268/TCHQ-TCCB ngày 13/4/2022, của Tổng cục Hải quan đã xác định số hàng 15.789 thùng, 1339 lon Mirinda loại GREEN CREAM FLAVOR (xuất xứ: Campuchia) theo hai tờ khai nhập khẩu số 102967645082 và 102972519421 của Công ty Toàn Cầu đối với nƣớc giải khát có gas Mirinda Green Cream Flavor, Chi cục đã phân công công chức kiểm tra hồ sơ, công chức đƣợc phân công đã thực hiện kiểm tra hồ sơ (kết quả ghi nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ). Do đó cần trả lại hàng hóa này cho Vũ Thị Kim P. Mặc dù một số hàng hóa bị hƣ hỏng phải tiêu hủy nhƣng xác định việc hƣ hỏng là do cơ quan có thẩm quyền bảo quản hàng hóa không đúng, nên cần trả lại giá trị hàng hóa theo Biên bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 07/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh An Giang, cụ thể:

- Nƣớc giải khát hiệu Mirinda – GREEN CREAM FLAVOR: 15.789 thùng trị giá 2.302.320.402 đồng;

- Nƣớc giải khát hiệu Mirinda – GREEN CREAM FLAVOR: 1.339 lon trị giá 8.124.425 đồng.

Tổng số tiền bị cáo đƣợc nhận lại là: 2.310.144.827đồng (Hai tỷ ba trăm mƣời triệu một trăm bốn mƣơi bốn nghìn tăm trăm hai mƣơi bảy đồng), đƣợc trích từ số tiền phát mãi đấu giá 7. 410.414.000 đồng (Bảy tỷ bốn trăm mƣời triệu bốn trăm mƣời bốn nghìn đồng).

Số tiền còn lại 5.099.969.173đ (Năm tỷ chín mƣơi chín triệu chín trăm sáu mƣơi chín nghìn một trăm bảy ba đồng) xác định là giá trị hàng hóa phạm tội còn lại (sau khi đã trừ số hàng hóa bị hƣ hỏng, tiêu hủy) sẽ bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nƣớc.

Quá trình Điều tra, cơ quan Công an thu giữ:

- 01 (một) Lap top nhãn hiệu Dell màu đen, đã qua sử dụng.

- 03 (ba) tờ giấy có tên Vũ Thị Kim P.

- 01 (một) máy in và scan nhãn hiệu Brother MFC-L3750CDW, đã qua sử dụng.

- 04 quyển tập có nhiều chữ viết và số, đã qua sử dụng.

- 01 (một) bao thƣ màu trắng đã đƣợc dán kính có chữ ký của ông Nguyễn Phƣớc Thịnh, Nguyễn Nguyên Hải và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang;

- 01 (một) Lap top nhãn hiệu Macbook Pro, màu trắng, đã qua sử dụng. - 01 (một) máy Scan hiệu ScanJet Pro 2000 S2, đã qua sử dụng.

- 01 (một) máy in HP laser MFP 135W, đã qua sử dụng.

Đây là tài sản của bị cáo, không xác định liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Ngoài ra, khi thu giữ hàng hóa còn giữ 03 ghe gỗ, gồm: Ghe biển kiểm soát AG - 03931 do Nguyễn Hùng D chủ sở hữu, ghe biển kiểm soát AG - 06788 do Nguyễn Hùng A sở hữu và ghe biển kiểm soát AG -10873 do Nguyễn Hoàng L sở hữu. Quá trình điều tra, cơ quan công an đã giao lại cho chủ sở hữu tạm quản lý, khai thác các phƣơng tiện trên. Nay đã xác định các chủ phƣơng tiện này không có lỗi trong việc phạm tội của bị cáo. Do đó ông D, ông A và ông L sẽ đƣợc thực hiện đầy đủ quyền sở hữu các phƣơng tiện trên.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Kim P phạm tội “Buôn lậu”.

Áp dụng: điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 nƣớc CHXHCN Việt Nam.

Xử phạt: Vũ Thị Kim P 09 (chín) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2022.

Hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo Vũ Thị Kim P nộp phạt 80.000.000đ (Tám mƣơi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nƣớc.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho Vũ Thị Kim P:

- Số tiền 2.310.144.827đồng (Hai tỷ ba trăm mƣời triệu một trăm bốn mƣơi bốn nghìn tăm trăm hai mƣơi bảy đồng).

- 01 (một) Lap top nhãn hiệu Dell màu đen, đã qua sử dụng.

- 03 (ba) tờ giấy có tên Vũ Thị Kim P.

- 01 (một) máy in và scan nhãn hiệu Brother MFC-L3750CDW, đã qua sử dụng.

- 04 (bốn) quyển tập có nhiều chữ viết và số, đã qua sử dụng.

- 01 (một) bao thƣ màu trắng đã đƣợc dán kín có chữ ký của ông Nguyễn Phƣớc Thịnh, Nguyễn Nguyên Hải và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang;

- 01 (một) Lap top nhãn hiệu Macbook Pro, màu trắng, đã qua sử dụng. - 01 (một) máy Scan hiệu ScanJet Pro 2000 S2, đã qua sử dụng.

- 01 (một) máy in HP laser MFP 135W, đã qua sử dụng.

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nƣớc: 5.099.969.173đ (Năm tỷ chín mƣơi chín triệu chín trăm sáu mƣơi chín nghìn một trăm bảy ba đồng).

(Tất cả các vật chứng trên hiện do Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/12/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh An Giang và Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang)

Ông Nguyễn Hùng D đƣợc tiếp tục thực hiện quyền sở hữu đối ghe biển kiểm soát AG – 03931; ông Nguyễn Hùng A đƣợc tiếp tục thực hiện quyền sở hữu đối ghe biển kiểm soát AG - 06788 và ông Nguyễn Hoàng L đƣợc tiếp tục thực hiện quyền sở hữu đối với ghe biển kiểm soát AG -10873. (Cả 03 chiếc ghe này hiện đang do các chủ sở hữu là ông Nguyễn Hùng D, Nguyễn Hùng A và Nguyễn Hoàng L đang quản lý và sử dụng).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Vũ Thị Kim P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án.

Cỡ chữ