- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đỗ Thị Thúy N phạm tội Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Đỗ Thị Thúy N cho Ủy ban nhân dân phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG _________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HS-ST Ngày 19-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Thúy N, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1971 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Đường C, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Phố K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh Giám (đã chết) và bà Đỗ Thị Nhanh; có chồng là Nguyễn Xuân Tầm và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/11/2022, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/11/2022; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Đặng Đình H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Đường C, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1992; nơi cư trú: Đường N, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Huy H1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/11/2022, Đỗ Thị Thúy N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 334.33 đi ngược chiều tại khu vực có biển báo cấm đi ngược chiều trên đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Khi đi đến số 52 đường Vũ Trọng Khánh, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì Tổ công tác số 2, Công an quận Ngô Quyền bao gồm các đồng chí Nguyễn Huy H1, Nguyễn Tuấn A và Đặng Đình H đang thực hiên nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông ra tín hiệu yêu cầu N dừng xe, thông báo lỗi vi phạm và yêu cầu xuất trình giấy tờ nhưng N không mang theo được giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô để xuất trình nên Tổ công tác quyết định lập biên bản vi phạm hành chính. Lúc này, do sợ bị giữ xe nên N đã không chấp hành mà có hành vi chửi bới và dùng mũ bảo hiểm đánh liên tiếp vào người đồng chí Nguyễn Tuấn A và đồng chí Đặng Đình H. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Thị Thúy N, thu giữ 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng.
Ngày 19/11/2022, Công an quận Ngô Quyền đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ của Đỗ Thị Thúy N.
Về vật chứng của vụ án: 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSNQ ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Thúy N về tội Chống người thi hành công vụ quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Đỗ Thị Thúy N khai nhận hành vi thực hiện như quyết định truy tố và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đỗ Thị Thúy N về tội Chống người thi hành công vụ quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo Đỗ Thị Thúy N với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng về tội Chống người thi hành công vụ. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Đây là vụ án phạm tội quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm thực hiện là tội ít nghiêm trọng, người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Vì vậy, vụ án đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Thúy N khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung quyết định truy tố và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Đỗ Thị Thúy N đã có hành vi dùng vũ lực đối với đồng chí Nguyễn Tuấn A và đồng chí Đặng Đình H là cán bộ Công an quận Ngô Quyền, làm cản trở nhiệm vụ của lực lượng công an khi đang thực thi công vụ ngày 19/11/2022 tại khu vực tuyến đường Vũ Trọng Khánh, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Như vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Thị Thúy N đủ yếu tố cấu thành tội Chống người thi hành công vụ được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đỗ Thị Thúy N nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt; xét thấy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo là phương tiện phạm tội.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đã có hành vi dùng mũ bảo hiểm đánh đồng chí Nguyễn Tuấn A và đồng chí Đặng Đình H, tuy nhiên không gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền không xử lý đối với hành vi trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Thị Thúy N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Chống người thi hành công vụ, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Thị Thúy N cho Ủy ban nhân dân phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù cho bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Thị Thúy N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |