- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm xe máy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 15/2023/HS-ST Ngày 18 – 5 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bé
2. Ông Võ Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh năm 1991; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Cả Bát, xã Vĩnh Thạnh, huyện Tân Hưng, Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Tâm, sinh năm 1963 và bà Lê Thị Bền, sinh năm 1963; Bị cáo có 4 anh chị, em ruột; Bị cáo chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thạnh Hóa từ ngày 16/01/2023, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Ông Ngô Văn Dững, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp Cả Sáu, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, Long An (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 ngày 16/01/2023, Trần Văn Đ trên đường đi từ nhà trọ tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh về nhà tại huyện Tân Hưng, tỉnh Long An bằng xe máy, đến đoạn thuộc ấp Cả Sáu, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An thì Đ phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Future màu đỏ - nâu - đen biển số 62F1-242.92 của Ngô Văn Dững đang đỗ trước nhà cặp bên trái lộ theo hướng đi. Thấy xe còn gắn chìa khóa trên ổ khóa, không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm xe. Đ quay xe lại, đỗ cách xe của anh Dững khoảng 10 mét. Sau đó, Đ đi bộ đến xe của Dững, khởi động máy, điều khiển xe chạy về hướng huyện Mộc Hóa. Ngay sau đó, anh Dững phát hiện mất xe nên trình báo cơ quan công an. Công an xã Thạnh Phước phối hợp với quần chúng nhân dân chốt chặn, truy đuổi và bắt giữ Trần Văn Đ cùng với tang vật tại ấp Đình, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Tại Cơ quan điều tra Trần Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 87 ngày 18/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự kết luận, xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future mang biển số 62F1 – 242.92 có giá trị 28.050.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạnh Hóa đã tiến hành thu giữ và xử lý đồ vật, tài liệu: Trả cho bị hại Ngô Văn Dững 01 (một) xe mô tô Future màu đỏ nâu đen, số máy JC90E0150550, số khung RLHJC7653MY040488, biển số 62F1-242.92 tình trạng đã qua sử dụng, biển số bị gãy; Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Future mang biển số 62T1-117.13, bị cáo sử dụng bỏ lại hiện trường là tang vật trong một vụ án khác do Công an huyện Mộc Hóa đang thụ lý giải quyết nên giao cho Công an huyện Mộc Hóa.
Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An truy tố Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 16 tháng đến 20 tháng tù.
Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo Đ thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt xe máy của ông Ngô Văn Dững. Tài sản có giá trị 28.050.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Trần văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác Đ pháp luật bảo vệ nên cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng để xử phạt bị cáo và mang tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo Đ hưởng hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo Đ hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử hình phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Toà án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả tài sản bị trộm cho bị hại Ngô Văn Dững 01 (một) xe mô tô Future màu đỏ nâu đen, số máy JC90E0150550, số khung RLHJC7653MY040488, biển số 62F1-242.92 tình trạng đã qua sử dụng, biển số bị gãy; Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Future mang biển số 62T1-117.13, bị cáo sử dụng bỏ lại hiện trường là tang vật trong một vụ án khác do Công an huyện Mộc Hóa đang thụ lý giải quyết nên giao cho Công an huyện Mộc Hóa là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần văn Đ 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thạnh Hóa (ngày 16/01/2023).
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn Đ 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18/5/2023).
Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định Đ thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án Đ thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thạnh Hóa; - CQĐT, Đội THAHS Công an huyện; - Chi cục THADS huyện Thạnh Hóa; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HOÀNG THỊ THÚY LÀNH |