vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Phạm M phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo 12 (Mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Dương Phạm M cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam giá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương phạm M phạm tội: Cố ý lamf hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Phạm M phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THĂNG BÌNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày 17-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Liên.

- Ông Nguyễn Đăng Thám.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hạnh Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Dương Phạm M; sinh năm: 1996, tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương L, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 06/10/2022, bị Công an huyện Thăng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân”. Nhân thân: Ngày 18/7/2018, bị Công an thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Chị Dương Thị Tường V, sinh năm: 2003; vắng mặt.

+ Cháu Dương Ngọc T, sinh ngày: 04/11/2007; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Dương Ngọc T: Ông Dương Ngọc T, sinh năm: 1983; vắng mặt.

Cùng trú tại: Tổ 8, thôn T, xã B, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1973; có mặt.

Trú tại: Tổ 16, Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1962; vắng mặt.

Trú tại: Tổ 16, Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 30/10/2022, bị cáo Dương Phạm M sau khi đi uống bia cùng bạn bè về nhà tại tổ 16, Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; bị cáo vào nhà lấy 01 cái búa (loại búa đóng đinh) đi ra đường bê tông liên thôn trước nhà. Lúc này có chị Dương Thị Tường V điều khiển xe mô tô BKS 92H1-881.66 chở theo em Dương Ngọc T đi từ xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình xuống Quốc lộ 1A. Khi chị V đi đến đoạn đường liên thôn thuộc tổ 16, thôn Tú Cẩm thì Dương Phạm M ra đứng trước đầu xe chặn lại không cho chị V đi. Bà Nguyễn Thị B (mẹ ruột của M) và bà Nguyễn Thị H (hàng xóm của M) ra can ngăn bị cáo để chị V đi qua. Khi chị V vừa đi qua khỏi thì bị cáo dùng tay kéo xe lại làm cho chị V điều khiển bị nghiêng và em Dương Ngọc T ngã xuống đường, bị trầy xước ở chân. Sau đó, bị cáo cầm búa ở tay phải đập vào đầu xe mô tô Lead BKS 92H1-881.66 nhưng được bà Ngọc và bà Hoa can ngăn nên chị V dắt xe đi được một đoạn thì bị cáo tiếp tục đuổi theo và kéo, đẩy xe mô tô BKS 92H1-881.66 làm xe bị ngã xuống đường. Bà Ngọc và bà Hoa tiếp tục đến can ngăn và giữ bị cáo lại, chị Dương Thị Tường V và em T dựng xe lên và đi đến Công an xã B, huyện T trình báo vụ việc.

Hậu quả: xe mô tô BKS 92H1-881.66 bị hư hỏng, anh Dương Ngọc T bị trầy xước ngoài da ở đầu gối hai chân.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 xe mô tô BKS 92H1-881.66; 01 cái búa (loại búa đóng đinh) dài 33cm, cán nhựa dài 28cm, rộng nhất 04cm, đầu búa bằng kim loại dài 13cm, rộng 05cm; 05 mảnh nhựa màu trắng trong suốt không rõ hình dạng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐG ngày 09/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thăng Bình kết luận: xe mô tô BKS 92H1-881.66 bị hư hỏng trị giá 430.000 đồng (Bốn trăm ba mươi nghìn) đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại đều thống nhất và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Dương Phạm M về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong và người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 cái búa dài 33cm, cán nhựa dài 28cm, rộng nhất 04cm, đầu búa bằng kim loại dài 13cm, rộng 05cm; 05 mảnh nhựa màu trắng trong suốt không rõ hình dạng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên và thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Thăng Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về tội danh: Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được: Khoảng 19 giờ ngày 30/10/2023, tại đoạn đường bê tông thuộc địa phận tổ 16, Thôn C, xã B, huyện T; bị cáo Dương Phạm M đã có hành vi sử dụng búa (loại búa đóng đinh) đập vào đầu xe mô tô Lead, biển kiểm sát 92H1-881.66 của chị Dương Thị Tường V, sau đó tiếp tục kéo, đẩy làm xe bị ngã xuống đường, gây hư hỏng xe mô tô BKS 92H1-881.66 với tổng giá trị thiệt hại là 430.000 đồng (Bốn trăm ba mươi ngàn) đồng. Tài sản bị cáo gây thiệt hại dưới 2.000.000 đồng nhưng do ngày 06/10/2022, bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” thuộc T tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Do đó, Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 08 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tài sản hợp pháp của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái phép tài sản của chủ sở hữu sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm minh. Bị cáo M là người đã thành niên và có đủ khả năng để nhận thức được hành vi của mình; tuy nhiên, do nhậu nhẹt, say xỉn bị cáo đã không làm chủ được bản thân, cố ý đập phá, làm hư hỏng xe mô tô Lead BKS 92H1-881.66 của chị V gây thiệt hại 430.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra để ren đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục là phù hợp; đồng thời, tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện sửa chữa thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập của bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

. Những vấn đề liên quan trong vụ án:

- Đối với cháu Dương Ngọc T bị ngã xuống đường và trầy xướt ngoài da ở đầu gối hai chân. Cháu T và người đại diện hợp pháp của cháu T có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập mà xem đây là T tiết của vụ án.

- Đối với 01 cái búa (loại búa đóng đinh), bị cáo sử dụng để đập xe mô tô Lead BKS 92H1-881.66 của chị V. Đây là tài sản của gia đình bà Nguyễn Thị B nhưng bà Ngọc không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong và người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cái búa dài 33cm, cán nhựa dài 28cm, rộng nhất 04cm, đầu búa bằng kim loại dài 13cm, rộng 05cm; 05 mảnh nhựa màu trắng trong suốt không rõ hình dạng.

- Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thăng Bình đã trả lại cho chủ sở hữu chị Dương Thị Tường V 01 xe mô tô BKS 92H1-881.66 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Phạm M phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1. Xử phạt: Bị cáo 12 (Mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Dương Phạm M cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án; gia đình của bị cáo M có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo; trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Dương Phạm M.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cái búa dài 33cm, cán nhựa dài 28cm, rộng nhất 04cm, đầu búa bằng kim loại dài 13cm, rộng 05cm và 05 mảnh nhựa màu trắng trong suốt không rõ hình dạng.

(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thăng Bình).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/3/2023). Người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

(Đã giải thích hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo).

Cỡ chữ