vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lộc, TP. Huế Tuyên án 23/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội dAnh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ (tức C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Bùi Văn Đức - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội dAnh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ (tức C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày: 23-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Cầm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Lâm và ông Huỳnh Văn Vy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thể, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên toà: Ông Trần Đình Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện P xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai (điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công A huyện P) vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 22/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 08/3/2023, đối với bị cáo:

Bùi Văn Đ, (tên gọi khác "Cua"); giới tính: Nam; sinh ngày 17 tháng 5 năm 2000 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn S, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không ổn định; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; Q tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; con ông Bùi Đ, sinh năm 1965 và bà PhA Thị N, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2022 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đức N, sinh ngày: 01/01/2005. Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Võ Công V, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

+ Anh Bùi Văn A, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

+ Anh Lê Đức ình C, sinh năm 2004. Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

+ Anh Trần Văn Bảo Q, sinh ngày 05/01/2005. Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

+ Anh Lê Đức P, sinh ngày 30/3/2005. Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Đức D và bà Võ Thị T (chẹ ruột Anh P). Đều trú tại: Thôn B, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; đều vắng mặt.

- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:

+ Bà Đoàn Anh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

+ Ông Đinh ThAnh Tâm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:

+ Ông Trần Văn T, sinh năm 2000, cán bộ cơ quan Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công A huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

+ Ông Trần Trung T, sinh năm 2000, Chiến sỹ thuộc cơ quan Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công A huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/7/2020, Lê Đứcình C điều khiển xe mô tô 43F1-228.54 chở phía sau lần lượt là: Bùi Văn A, Võ Công V và Bùi Văn Đ đi trên đường Q lộ 1 theo hướng Đà Nẵng - Huế. Khi đi đến đoạn trước cửa hàng xăng dầu số 23 (thuộc xã L, huyện P), Đ phát hiện Trần Văn Bảo Q điều khiển xe 75AK-011.88 chở phía sau xe lần lượt là: Lê Đức P và Nguyễn Đức N đang đi phía trước. Theo lời khai của Đ, do Đ nhìn thấy trong nhóm này có Q giống người trước đó có mâu thuẫn với Đ nên Đ nói với những người trong nhóm mình (gồm C, A, V) đuổi theo nhóm của Q để đánh trả thù thì cả nhóm đồng ý. C điều khiển xe chở A, V và Đ đuổi theo xe của Q. Khi đuổi theo được một đoạn, Đ nói với C, A, V là “Dừng xe lại để vào quán tạp hóa bên đường lấy vỏ chai bia Huda” dùng làm hung khí. Nghe vậy, C dừng xe, Đ xuống lấy 03 vỏ, V lấy 03 vỏ, A lấy 02 vỏ (đều là loại vỏ chai bia Huda màu nâu) rồi tiếp tục lên xe đuổi theo. Khi nhóm của C, A, V và Đ đuổi theo nhóm Q, P và Nam đến gần cầu La Sơn, xã L, huyện P thì đuổi kịp. Lúc này, hai xe đang chạy song song nhau thì C hỏi Đ: “Có phải không”, Đ trả lời “Phải, đập đi”. A, V và Đ đều dùng vỏ chai bia ném về phía nhóm Q, P và N. C điều khiển xe vượt lên, chặn đầu xe của Q thì Võ Công V nói với nhóm của Q dừng xe lại.

Khi cả hai xe dừng lại thì Đ, V và A tiếp tục dùng vỏ chai bia Huda ném vào nhóm Q, P và Nam, đồng thời ném vào xe 75AK-011.88 làm hư hỏng xe. Sau khi dừng xe, Đ đi đến dùng tay đánh N, rồi đánh Q và P nên Q và P bỏ chạy. Lúc này, Võ Công V đi đến vị trí Anh Nguyễn Đức N đang đứng, tay trái cầm vỏ chai bia Huda đánh mạnh một cái vào đầu Anh Nguyễn Đứcức N làm Anh Nam ngã gục xuống đất, bất tỉnh. Bùi Văn Đ đuổi đánh Q và P không được nên quany lại đi đến dùng chân đá 01 cái vào người Anh N và nói “Mi giả chết à”. Sau đó C điều khiển xe chở A, V và Đ đi về. Nguyễn Đức N sau khi bị đánh gây thương tích được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế đến ngày 06/8/2020 thì ra viện.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số: 320-20/TgT ngày 11/9/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế đã kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Anh Nguyễn Đức N như sau:

1. Dấu hiệu chính quan giám định: Chấn thương sọ não tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái điều trị nội khoa hiện còn suy nhược nhẹ, rối loạn sóng điện não: 15%. Vết thương phần mềm vùng đầu để lại sẹo mỏng: 1%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể chung hiện tại là 16%.

3. Vật gây và cơ chế hình thành: Chấn thương vùng đầu do tác động của vật tày vào vùng đỉnh trái với lực mạnh.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46/HĐĐG ngày 21/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện P đã xác định trị giá hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát số 75AK-088.11 là 1.273.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 02 mảnh vỡ thủy tinh màu nâu (từ vỏ chai bia Huda); xe mô tô biển kiểm soát 43F1-228.54 và giấy chứng nhận đăng ký của xe.

Về trách nhiệm dân sự: Võ Công V, Lê Đứcình C, Bùi Văn A và bị cáo Bùi Văn Đ đã cùng với gia đình thỏa thuận liên đới bồi thường cho bị hại tổng số tiền 48.500.000 đồng về chi phí điều trị thương tích, chăm sóc và bù đắp tổn thất về tinh thần, trong đó: Mỗi bị cáo và gia đình mình bồi thường số tiền 12.125.000 đồng; bồi thường thiệt hại xe 75AK-011.88 bị hư hỏng là 1.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSPL ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.

Bị cáo Bùi Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAnh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án đã được Tòa án nhận định, đánh giá tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 28/12/2021. Từ thời điểm phục điều tra vụ án đối với Bùi Văn Đ các cơ quan và những người tiến hành tố tụng nêu trên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, một số người làm chứng. Tuy nhiên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc và bị cáo đều đề nghị xét xử vụ án vì quá trình điều tra những người tham gia tố tụng vắng mặt nói trên đã có lời khai đầy đủ; vấn đề dân sự đã được bồi thường và việc xử lý vật chứng đã được Tòa án giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 28/12/2021. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vụ án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét hành vi của bị cáo Bùi Văn Đ thấy rằng: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/7/2020, tại xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế do trước đó có mâu thuẩn với Trần Văn Bảo Quốc nên Bùi Văn Đ đã rủ Bùi Văn A, Võ Công V và Lê Đứcình C điều khiển xe mô tô mô tô 43F1-228.54 chạy đuổi theo xe của mô tô 75AK-011.88 do Trần Văn Bảo Q điều khiển chở phía sau xe là: Lê Đức P và Nguyễn Đức N để chặn đánh. Bùi Văn Đ đã dùng tay đánh Nguyễn Đức N, Q và P. Võ Công V tay trái cầm vỏ chai bia Huda đánh một cái vào đầu Anh Nguyễn Đức N làm Anh Nam ngã gục xuống đất bất tỉnh, Bùi Văn Đ dùng chân đá thêm một cái vào người Anh Nam. Hậu quả Anh Nguyễn Đức N bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16%.

Xét thấy thương tích của bị hại Nguyễn Đức N là do Võ Công V gây ra. Tuy nhiên, bị cáo Bùi Văn Đ là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê Võ Công V, Bùi Văn A và Lê Đứcình Cường thực hiện hành vi đánh các Anh Quốc, Nam và P nên Bùi Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự do hậu quả của Võ Công V gây ra.

Hành vi của bị cáo cho thấy mặc dù không có mâu thuẫn từ trước nhưng bị cáo đã khởi xướng cùng Võ Công V và Bùi Văn A dùng vỏ chai bia thủy tinh là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho Anh Nguyễn Đức N nên hành vi phạm tội của bị cáo là có tính chất côn đồ theo quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị hại Nguyễn Đức N tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung phạm tội “đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Với hành vi và hậu quả nêu trên, Bùi Văn Đ đã phạm tội theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Bùi Văn Đ theo tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đây là vụ án có đồng phạm, nhưng mAg tính chất giản đơn. Trong đó bị cáo Bùi Văn Đ là người khởi xướng, rủ rê, chủ động yêu cầu Võ Công V, Bùi Văn A và Lê Đứcình C chuẩn bị hung khí và thực hiện hành vi phạm tội tích cực nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Quá trình điều tra, trong thời giA áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo bỏ đi khỏi địa phương, gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Điều đó chứng tỏ bị cáo rất xem thường pháp luật nên cần xét xử nghiêm theo đúng quy định.

Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng: Đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Trên cơ sở xem xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời giA nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với hành vi phạm tội của Võ Công V và Bùi Văn A đã bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 28/12/2021 và Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử tại Bản án hình sự phúc thẩm số 31/2022/HS-PT ngày 06/5/2022 (xử phạt: Bùi Văn A 02 năm tù, Võ Công V 02 năm 09 tháng tù).

Đối với Lê Đứcình C, tại thời điểm thực hiện hành vi gây thương tích cho Anh Nam, C chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nêu trên theo Điều 12 của Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi làm hư hỏng tài sản là xe 75AK-088.11 với trị giá tài sản bị thiệt hại là 1.273.000 đồng, do hành vi này chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công A huyện P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn Đ, Võ Công V, Bùi Văn A và Lê Đứcình C theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Văn Đ và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng vụ án đã được nhận định, đánh giá và xử lý theo Bản án số 49/2021/HS-ST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện P nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội dAnh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ (tức C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù.

Thời giA chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (24/10/2022).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Buộc bị cáo Bùi Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ