- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lèo Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 15/2023/HS-ST Ngày: 24/3/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mai.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyền và ông Nguyễn Kim Hợp
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tƣ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Tân Hòa - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lèo Văn H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 30/8/2001
Nơi cư trú: BT, xã BM, huyện TC, tỉnh Sơn La;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lèo Văn Th, sinh năm 1982; con bà: Lèo Thị Ph, sinh năm 1982; Vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: - Ngày 01/11/2022, bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định khởi tố bị can số 416 về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 08/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, Bản án số: 19/2023/HS-ST ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo hiện đang chấp hành án theo Quyết định Thi hành án hình phạt tù số: 126/2023/QĐ-CA ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Nơi chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Quàng Văn T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/5/2003
Nơi cư trú: BB, xã MK, huyện TC, tỉnh Sơn La;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Quàng Văn S, sinh năm 1976; con bà: Lò Thị Ph, sinh năm 1978; Vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: - Ngày 01/11/2022, bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định khởi tố bị can số 417 về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 08/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, Bản án số: 19/2023/HS-ST ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo hiện đang chấp hành án theo Quyết định Thi hành án hình phạt tù số: 127/2023/QĐ-CA ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Nơi chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bị hại:
+ Anh Tòng Văn Th, sinh năm 2002 (Có mặt tại phiên tòa)
HKTT: Bản TT, xã PL, huyện TC, tỉnh Sơn La
- Ngƣời làm chứng:
+ Anh Cà VT, sinh năm 2004 (Vắng mặt)
HKTT: Bản D, xã PT, huyện TC, tỉnh Sơn La
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lèo Văn Hoàn, sinh năm: 2001, HKTT: BT, BM, TC, Sơn La; Quàng Văn T, sinh năm: 2003, HKTT: BB, MK, TC, Sơn La và Tòng Văn Th, sinh năm: 2002, HKTT: Bản TT, PT, TC, Sơn La cùng làm công nhân tại công trình xây dựng ở xóm C, TV, LS, Hòa Bình và ở cùng lán trọ với nhau.
Vào sáng ngày 18/10/2022, T, H và Th cùng đến công trường làm việc. Lúc này T và H nói chuyện và cùng rủ nhau lấy trộm xe máy của Th để đi chỗ khác làm. Sau khi hết giờ làm việc buổi sáng, H, T, Th cùng mọi người về lán trọ ăn cơm. Trước khi nghỉ trưa Th có dựng chiếc xe mô tô Honda wave màu trắng - đen - bạc BKS: 26M-xxxxx ở trước cửa lán trọ. Sau khi ăn cơm xong H hỏi mượn điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 màu đen của Th để gọi điện lấy quần áo nhưng mục đích là mượn để chơi game. Th đồng ý và nói dùng xong thì trả và để ở giường ngủ. H chơi game và đưa điện thoại để T chơi cùng, sau đó T đưa điện thoại cho H cầm. H cầm điện thoại định mang trả cho Th nhưng lại nảy sinh ý định lấy chiếc điện thoại của Th mang đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài nên cất điện thoại của Th vào túi quần, rồi lấy chìa khóa xe máy của Th đi ra khỏi phòng trọ trước, T đi ra sau. H cắm chìa khóa xe ngồi lên điều khiển, T ngồi sau, H thả trôi xe khỏi cổng khu trọ thì nổ máy xe đi ra Quốc lộ 6 đi về hướng Hà Nội. Khi đi được khoảng 10km thì xe sắp hết xăng nên H và T bán chiếc điện thoại di động của Th cho một người đàn ông không quen biết trên đường với giá 700.000 đồng. Sau khi có tiền, H và T đổ xăng hết 70.000 đồng và tiếp tục đi về Bắc Giang. Khi đi đến huyện Việt Yên, Bắc Giang, H và T vào quán chơi game đến sáng ngày 19/10/2022 thì đi đến phòng trọ bạn của H là Cà VT, sinh năm: 2004 tại thị trấn Nếnh, Việt Yên, Bắc Giang ở nhờ phòng trọ. Đến ngày 21/10/2022 H và T nhờ VT hỏi chỗ cầm cố chiếc xe mà H và T lấy trộm được, T hỏi H là xe của ai thì H bảo là xe của T. VT có liên hệ với một người nam giới rồi hẹn gặp ở quán nước gần khu trọ của VT. Sau đó H, T, VT đi đến quán nước gặp người nam giới, H là người trao đổi, thỏa thuận làm giấy tờ cầm cố xe với người nam giới được số tiền 5.500.000 đồng. H hỏi địa chỉ của người đàn ông thì người này chỉ cho H số điện thoại và nói khi nào cần chuộc xe thì gọi, hiện H chỉ nhớ số điện thoại có đuôi 083 còn các số khác thì H không nhớ, giấy tờ cầm cố xe thì H đã làm mất. Số tiền có được H chi tiêu vào việc ăn uống cho quá trình ở phòng trọ của VT. Đến ngày 23/10/2022 H và T thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của anh VT và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên, Bắc Giang khởi tố vụ án, bị can, bắt tạm giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 08/02/2023 Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, Bắc Giang xử phạt Lèo Văn H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, xử phạt Quàng Văn T 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Quá trình điều tra Lèo Văn H và Quàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 34 ngày 07/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lương Sơn, Hoà Bình kết luận: 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu sơn: trắng - đen - bạc, số máy: JA39E1102251; số khung: 3915KY241491, BKS: 26M1-xxxxx, dung tích 109, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đăng ký lần đầu ngày 20/7/2019 (xe đã qua sử dụng, chưa thu giữ được xe), thời điểm định giá: tháng 11/2022, trị giá: 13.300.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 35 ngày 07/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lương Sơn, Hoà Bình kết luận: 01(một) điện thoại di động Vivo Y72 5G, ram 8GB, dung lượng 128GB, màu đen, mua khoảng tháng 7/2021 (đã qua sử dụng), thời điểm định giá: tháng 11/2022, trị giá: 2.800.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định, ngày 18/10/2022 khi bán chiếc điện thoại Vivo Y72 cho người đàn ông trên đường đi Bắc Giang, H và T không nói tài sản do trộm cắp mà có, H và T không biết tên tuổi địa chỉ của người đàn ông này, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn tách hành vi của người đàn ông này ra, khi nào xác định được sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến ngày 21/10/2022 H và T cầm cố chiếc xe mô tô BKS: 26M1-xxxxx cho một người đàn ông không quen biết ở Bắc Giang, khi cầm cố H không nói tài sản do phạm tội mà có, bản thân H không nhớ được số điện thoại, không biết tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông này, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn tách hành vi của người đàn ông này ra, khi nào xác định được sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về hành vi ngày 18/10/2022 Hoàn mượn chiếc điện thoại Vivo Y72 của anh Th để sử dụng, sau đó nảy sinh ý định chiếm đoạt. Sau khi chiếm đoạt được tài sản trên đường đi Bắc Giang, H và T đã bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 700.000 đồng. Hành vi này có dấu hiệu của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên qua định giá trị giá của chiếc điện thoại dưới 4.000.000 đồng, trước đó H và T chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về tội này và một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và Điều 290 Bộ luật Hình sự nên không đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngày 13/02/2023 Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54, 55 đối với H và T (phạt tiền 2.500.000 đồng) theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 15 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Quá trình điều tra xác định, ngày 21/10/2022 Cà Văn Tiên là người cùng H và T đi cầm cố chiếc xe mô tô BKS: 26M1- xxxxx ở Bắc Giang, khi cầm cố H và T không nói cho VT không biết chiếc xe mô tô do trộm cắp mà có, VT không được H và T chia tiền sau khi cầm cố chiếc xe.
*Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe mô tô 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu sơn: trắng - đen- bạc, số máy: JA39E1102251; số khung: 3915KY241491, BKS: 26M1- xxxxx. Ngày 04/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định truy tìm vật số 17, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa truy tìm được.
- 01 (một) điện thoại di động Vivo Y72 5G, ram 8GB, dung lượng 128GB, màu đen. Ngày 04/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định truy tìm vật số 18, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa truy tìm được.
* Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại anh Tòng Văn Th yêu cầu Lèo Văn H và Quàng Văn T phải bồi thường cho anh Th giá trị chiếc xe máy bị chiếm đoạt là 13.300.000 đồng và 2.800.000 đồng trị giá chiếc điện thoại di động Vivo Y72 5G, ram 8GB. Hiện các bị cáo vẫn chưa bồi thường thiệt hại cho anh Th.
Cáo trạng số: 16/CT-VKSLS ngày 21 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã truy tố các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lèo Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 14 (mười bốn) tháng tù của Bản án số: 19/2023/HS-ST ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Xử phạt: Quàng Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của Bản án số: 19/2023/HS-ST ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Về vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu sơn: trắng – đen- bạc, số máy: JA39E1102251; số khung: 3915KY241491, BKS: 26M1- xxxxx. Ngày 04/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định truy tìm vật số 17, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa truy tìm được.
- 01 (một) điện thoại di động Vivo Y72 5G, ram 8GB, dung lượng 128GB, màu đen. Ngày 04/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định truy tìm vật số 18, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa truy tìm được.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 587 và 589 Bộ luật dân sự đề nghị HĐXX: Buộc các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T phải liên đới bồi thường cho anh Tòng Văn Th trị giá chiếc xe mô tô các bị cáo trộm cắp và chiếc điện thoại các bị cáo chiếm đoạt là 16.100.000đ (Mười sáu triệu một trăm nghìn đồng);
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lương Sơn, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi và các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi mà mình đã thực hiện, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, kết quả định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 18/10/2022 tại xóm C, xã TV, huyện LS, Hòa Bình. Lèo Văn H và Quàng Văn T có hành vi lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô BKS: 26M1- xxxxx của anh Tòng Văn Th, sinh năm: 2002, HKTT: Bản TT, xã PL, huyện TC, Sơn La. Qua định giá trị giá chiếc xe mô tô là 13.300.000đ (Mười ba triệu ba trăm nghìn đồng).
Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, xong vì mục đích cá nhân, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện dẫn đến phạm tội.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công. Bị cáo Lèo Văn H là người trực tiếp thực hiện còn bị cáo Quàng Văn T giữ vai trò đồng phạm tích cực cùng thực hiện. Do đó bị cáo Lèo Văn H phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Quàng Văn T.
Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu, tại Bản án số: 19/2023/HS-ST, ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Lèo Văn H 14 tháng tù và Quàng Văn T 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, cần xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ tham gia tội phạm, vai trò, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, từ đó có hình phạt tương ứng với từng bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tuy nhiên các bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do vậy hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Về vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu sơn: trắng - đen - bạc, số máy: JA39E1102251; số khung: 3915KY241491, BKS: 26M1-xxxxx. Ngày 04/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định truy tìm vật số 17, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa truy tìm được nên hội đồng xét xử không đề cập.
- 01 (một) điện thoại di động Vivo Y72 5G, ram 8GB, dung lượng 128GB, màu đen. Ngày 04/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định truy tìm vật số 18, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa truy tìm được nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại anh Tòng Văn Th yêu cầu các bị cáo bồi thường trị giá chiếc xe mô tô các bị cáo trộm cắp và chiếc điện thoại các bị cáo chiếm đoạt là 16.100.000đ (Mười sáu triệu một trăm nghìn đồng). Do sau khi trộm cắp và chiếm đoạt được những tài sản của anh Tòng Văn Th các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T đã cùng bán và cầm cố những tài sản đó và cùng chi tiêu, do vậy Lèo Văn H và Quàng Văn T mỗi bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Tòng Văn Th một nửa trị giá tài sản tương ứng với số tiền là 8.050.000đ (Tám triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Đối với Cà VT là người cùng H và T đi cầm cố chiếc xe mô tô BKS: 26M1- xxxxx với giá 5.500.000 đồng, tuy nhiên Cà VT không biết chiếc xe mô tô do trộm cắp mà có, VT không được H và T chia tiền sau khi cầm cố chiếc xe. Vì vậy không xử lý trách nhiệm hình sự đối với VT, xác định VT là người làm chứng của vụ án.
Đối với người đàn ông mua chiếc điện thoại Vivo Y72 ngày 18/10/2022 với giá 700.000 đồng, khi bán H và T không nói là điện thoại do phạm tội mà có, các bị can không biết tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông này, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã tách hành vi của người đàn ông này ra để điều tra, khi nào xác định được sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông nhận cầm cố chiếc xe mô tô BKS: 26M1- xxxxx ngày 21/10/2022 với giá 5.500.000 đồng, khi cầm cố H không nói tài sản do phạm tội mà có, bản thân H không nhớ được số điện thoại, không biết tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông này, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã tách hành vi của người đàn ông này ra khi nào xác định được sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Lèo Văn H ngày 18/10/2022 mượn chiếc điện thoại Vivo Y72 của anh Th để sử dụng, sau đó H nảy sinh ý định chiếm đoạt. Sau khi chiếm đoạt được tài sản trên đường đi Bắc Giang, H và T đã bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 700.000 đồng. Hành vi này có dấu hiệu của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên qua định giá trị giá của chiếc điện thoại dưới 4.000.000 đồng, trước đó H và T chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về các tội này và một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và Điều 290 Bộ luật Hình sự nên không đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngày 13/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn, Hòa Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54, 55 đối với H và T (phạt tiền 2.500.000 đồng) theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 15 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
. Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
- Bị cáo Lèo Văn H 15 (mười lăm) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt 14 (mười bốn) tháng tù của Bản án số: 19/2023/HS-ST ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Lèo Văn H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 29 (hai chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2022.
- Bị cáo Quàng Văn T 12 (mười hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tù của Bản án số: 19/2023/HS-ST ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Quàng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2022.
2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Tòng Văn Th số tiền 16.100.000đ (Mười sáu triệu một trăm nghìn đồng). Cụ thể bị cáo Lèo Văn H phải bồi thường cho anh Tòng Văn Th số tiền là 8.050.000đ (Tám triệu không trăm năm mươi nghìn đồng); bị cáo Quàng Văn T phải bồi thường cho anh Tòng Văn Th số tiền là 8.050.000đ (Tám triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án không thanh toán khoản tiền trên, thì phải chịu lãi suất chậm thi hành án tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo Lèo Văn H và Quàng Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tinh HB; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh HB; - VKSND huyện Lương Sơn - CQĐT; CQTHAHS huyện Lương Sơn; - Chi cục THADS huyện Lương Sơn; - Các bị cáo; - Người bị hại; - Công thông tin điện tử TAND; - Luu HSVA. - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Mai |