vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điể m đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điề u 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung;

Căn cứ Điều 106, các Điều 135, 136, 292, 293, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Điều 3, Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Thuý - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điể m đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điề u 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày 21-02-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Chu Quố c Đạ t

2. Ông Đặng Thiều Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

* Vũ Thị T, sinh năm 1972. Tên gọ i khá c: không.

Nơi cư trú: Thôn Cổ ng Phên, xã Dương Đức, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao độ ng t ự do ; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thanh Lâm và bà Nguyễ n Thị Minh (đều đã chết), có chồng là Phạm Ích L ời (đã ly hôn) và 03 con (con lớ n sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2000).

Nhân thân, tiề n á n, tiề n sự : Không.

Bị cáo đầ u thú , bị tạm giữ từ ngày 18/11/2022 đến ngày 21/11/2022. Hiệ n đang á p dụ ng biệ n phá p ngăn chặ n cấ m đi khỏ i nơi cư trú - Có mặt tạ i phiên toà .

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Hoàng Thị Đạ , sinh năm 1971. Đị a chỉ : Xóm 3, xã Xuân Châu , huyệ n Xuân Trườ ng, tỉnh Nam Định - Vắ ng mặ t;

+ Chị Kiều Thị Lành , sinh năm 1974. Đị a chỉ : Thôn Tân Thà nh (Thôn 8 cũ), xã Quy Mông, huyệ n Trấ n Yên, tỉnh Yên Bái - Vắ ng mặ t;

+ Anh Lương Tuấ n Anh, sinh năm 1980. Đị a chỉ : Số nhà 335, đườ ng Giá p Hải, phườ ng Dĩ nh Kế , thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t;

+ Anh Nguyễ n Văn Yên, sinh năm 1970. Đị a chỉ : Tổ dân phố Lè o, thị trấn Kép, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t;

+ Chị Nguyễn Thị Giang , sinh năm 1975. Đị a chỉ : Thôn Trong, xã Tiên Lục, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t;

+ Bà Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1949. Đị a chỉ : Thôn Bế n Cá t, xã Đào Mỹ, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t;

+ Anh Trầ n Hữ u Phi , sinh năm 1966. Đị a chỉ : Thôn Ngoà i, xã Tiên Lục , huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t;

* Ngƣờ i là m chƣ́ ng:

+ Anh Nguyễ n Văn Giá m , sinh năm 1983. Đị a chỉ : Thôn Bã i Cả Đồ ng Kim, xã Tiên Lục, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 20 ngày 18/11/2022, tại nhà nghỉ Sao Mai thuộc thôn Ngoài, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện Lạng Giang phối hợp với Công an xã Tiên Lục tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ Sao Mai phát hiện tại phòng 205 và 206, mỗi phòng có một đôi nam nữ đang mua bán dâm, cụ thể:

Phòng 205, nam giới mua dâm khai là Lương Tuấn Anh, sinh năm 1980, ở số nhà 335, đườ ng Giá p Hả i , phườ ng Dĩ nh Kế , thành phố Bắc Giang , tỉnh Bắc Giang và gái bán dâm khai là Hoàng Thị Đạ, sinh năm 1971, trú tại Xóm 3, xã Xuân Châu, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Phòng 206, nam giới mua dâm khai là Nguyễn Văn Yên, sinh năm 1970, ở ở tổ dân phố Lèo, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang và gái bán dâm khai là Kiều Thị Lành, sinh năm 1974, trú tại Thôn Tân Thà nh (thôn 8 cũ), xã Quy Mông, huyện Trấ n Yên, tỉnh Yên Bái.

Tiến hành khám xét thu giữ tại phòng 205: 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Mivuro và 01 bao cao su đã qua sử dụng phát hiện trên nền nhà; 02 bao cao su chưa qua sử dụng, nhãn hiệu Mivuro phát hiện trên giường; tại phòng 206: 01 bao cao su chưa qua sử dụng, nhãn hiệu Mivuro phát hiện trên giường. Ngoài ra còn thu giữ của Kiều Thị Lành 01 xe máy điện biển số 98MĐ5 - 080.71; 01 điện thoại OPPO, mầu đen và số tiền 700.000 đồng. Tạm giữ của Hoàng Thị Đạ 01 điện thoại Iphone. Tạm giữ của Nguyễn Văn Yên 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirus biển số 98M1 - 143.20; 01 mảnh giấy có ghi chữ và số (BL 14-17)

Nguyễn Tuấn Anh và Hoàng Thị Đạ, Nguyễn Văn Yên và Kiều Thị Lành đều khai nhận việc bản thân mua bán dâm với nhau là do Vũ Thị Thúy, sinh năm 1972, trú tại Cổng Phên, xã Dương Đức, huyện Lạng Giang môi giới.

Cùng ngày 18/11/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Thị Thúy tạm giữ 01 chiếc điện thoại OPPO có số IMEI: 867816031756613; 01 căn cước công dân số 024172013898 của Vũ Thị Thúy và số tiền 1.450.000 đồng (BL 19-20).

Tại Cơ quan điều tra Vũ Thị Thúy đã đầu thú và kết quả điều tra xác định được như sau:

Vũ Thị Thúy mở quán “Cà phê Thúy” và có phòng hát Karaoke tại nhà ở thôn Cổng Phên, xã Dương Đức, huyện Lạng Giang. Khoảng 11 giờ ngày 18/11/2022, Yên, Tuấn Anh và anh Nguyễn Văn Giám, sinh năm 1983, ở thôn Bãi Cả Đồng Kim, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang đến quán của Thúy hỏi có “quen ai thì gọi cho 02 nhân viên để đi nhà nghỉ” (Thúy hiểu là tìm gái bán dâm để mua dâm). Thúy đồng ý, sau đó gọi điện cho chị Nguyễn Thị Giang, sinh năm 1975, ở Thôn Tây, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang là chủ phòng trà hát cho nhau nghe ở xã Tiên Lục. Thúy bảo Giang cho 02 nhân viên nữ làm ở quán Giang đến quán Thúy để hát karoke, Giang đồng ý. Giang bảo và cho Kiều Thị Lành mượn chiếc xe đạp điện biển số 98Đ5-080.71 để Lành và Đạ đi đến quán của Thuý. Khi Lành và Đạ đến cửa quán thì Thúy bảo Lành và Đạ “khách không hát chỉ đi nhà nghỉ thôi, có đi không?” Lành và Đạ đồng ý và báo giá 300.000đồng/người. Thúy vào nhà thu số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) của Yên, bao gồm tiền mua dâm của Yên và Tuấn Anh là 800.000 đồng (400.000 đồng/người), còn lại 200.000 đồng là tiền ăn uống của Yên, Tuấn Anh và Giám tại quán. Sau đó Yên và Tuấn Anh đi xe mô tô theo Lành và Đạ đến nhà nghỉ Sao Mai của ông Trần Hữu Phi, sinh năm 1966, ở thôn Ngoài, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang. Tuấn Anh và Đạ thuê phòng 205; Yên và Lành thuê phòng 206 để mua, bán dâm. Khi Tuấn Anh và Đạ; Yên và Lành đang quan hệ tình dục với nhau thì bị lực lượng Công an huyện Lạng Giang phối hợp với Công an xã Tiên Lục huyện Lạng Giang kiểm tra phát hiện, lập biên bản kiểm tra hành chính, thu giữ vật chứng, tài sản, đồ vật như nêu ở trên.

Bản cáo trạng số 03/KSĐT ngày 11/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố Vũ Thị T về tội “Môi giới mại dâm” theo điể m đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX xử phạ t bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm” và áp dụng điể m đ kho ản 2 Điều 328, Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điề u 65 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung, đề nghị xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưở ng á n treo , thờ i gian thử thá ch 05 năm. Về hình phạt bổ sung: Miễ n hì nh phạ t bổ sung là hì nh phạ t tiề n đố i vớ i bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 03 bao cao su đều nhãn hiệu Mivoro chưa sử dụng, 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Mivoro và 01 bao cao su đã qua sử dụng; tịch thu sung công quỹ Nhà nước : 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO có số IMEI: 867816031756613 thu của Vũ Thị T và số tiền 800.000 đồng tiề n của bị cáo thu đượ c từ việ c môi giớ i bán dâm cho khách; Trả lại cho bị cáo Vũ Thị T số tiền 650.000 đồng và 01 Căn cước công dân số 024172013898 mang tên Vũ Thị T nhưng tạm giữ số tiề n để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị về án phí hình sự đối với bị cáo, quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” là đúng, bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt được mức thấp nhất, bản thân bị cáo nhậ n thứ c đượ c hà nh vi môi giớ i bá n dâm củ a bị cá o vi phạ m phá p luậ t nhưng vì bản thân bị cáo là phụ nữ , ly hôn chồ ng nhiề u năm , mộ t mì nh phả i nuôi 03 con nên đã có hà nh vi vi phạ m phạ m luậ t.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định nhƣ sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Vũ Thị T tại phiên tòa đã thừa nhận về hành vi phạm tội và hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do công an huyện Lạng Giang lập hồi 11 giờ 20 phút ngày 18/11/2022 cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định: Buổ i trưa ngày 18/11/2022, tại quán “cà phê Thúy” thuộc thôn Cổng Phên, xã Dương Đức, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Vũ Thị Thúy có hành vi môi giới cho Hoàng Thị Đạ bán dâm cho Lương Tuấn Anh và Kiều Thị Lành bán dâm cho Nguyễn Văn Yên, thu được số tiền 800.000 đồng, sau đó bị Công an huyện Lạng Giang phát hiện lập biên bản vi phạm, thu giữ toàn bộ vật chứng, đồ vật, tài sản có liên quan.

Bị cáo T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo trực tiếp giới thiệu Đạ và Là nh đi bán dâm cho khách, được hưởng lợi từ việc môi giới, nên hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điể m đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo điều, khoản, tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội lần này bị cáo chưa từng bị Toà án xét xử , kế t tộ i cù ng như chưa từ ng bị cơ quan nà o xử phạ t về vi phạ m hà nh chính. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luậ t hì nh sự .

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bị cáo đầu thú, có bố mẹ đẻ đều là người có công với cách mạng nên được áp dụng các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm lĩnh vực trật tự công cộng của nhà nước ta, hành vi của bị cáo làm tổn hại đến thuần phong mĩ tục, đạo đức truyền thống của dân tộc. Do vậy cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo sau khi ly hôn chồ ng mộ t mì nh bị cáo nuôi 03 con, ngoài lần vi phạm pháp luật môi giớ i mạ i dâm nà y thì bị cá o không có vi phạm nào khác, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân , ăn hối hận về hành vi phạm tội của mình . Do vậ y, để đả m bả o tí nh nhân đạ o, khoan hồ ng củ a Nhà nướ c và phá p luậ t, Hộ i đồ ng xé t xử thấ y không cần bắ t bị cáo phả i cá ch ly khỏi đờ i số ng xã hội mà chỉ cầ n cho bị cáo cải tạo tạ i đị a phương dưới sự giám sát

, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ giú p răn đe , giáo dục bị cáo trở thành công dân biế t tuân thủ pháp luật theo quy đị nh tạ i Văn bả n hợ p nhấ t 02/VBHN-TANDTC ngà y 07/9/2022 của Toà án nhân dân tối cao hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điề u 65 của Bộ luật hình sự về án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n ở tạ i phiên toà .

Về hình phạt bổ sung: Theo quy đị nh tạ i khoả n 4 Điề u 328 Bộ luậ t hì nh sự , bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000đ đế n 50.000.000 đồ ng. HĐXX thấ y bị cáo là lao độ ng tự do, không có nghề nghiệ p ổ n đị nh, thu nhậ p bấ p bênh (có xác nhận của UBND xã Dương Đức , huyệ n Lạ ng Giang) nên không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là hì nh phạ t tiề n đố i vớ i bị cá o.

.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO có số IMEI: 867816031756613 thu của bị cáo Vũ Thị T là công cụ, dụng cụ bị cáo T liên lạc mua, bán dâm, môi giới mại dâm nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với số tiề n 1.450.000đ thu giữ củ a bị cá o Vũ Thị

T trong đó có 800.000đ là tiề n do đối tượng mua dâm trả cho T đây là tiề n trả cho việc bán dâm, tiền công môi giới bán dân nên cần tịch thu sung công số tiề n nà y, còn lại số tiề n 650.000đ không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên cầ n trả lại cho bị cáo T tuy nhiên cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n.

Đối với 01 Căn cước công dân số 024172013898 mang tên Vũ Thị T là giấ y tờ cá nhân củ a bị cá o nên cầ n trả lại cho bị cáo.

Các vật chứng gồm: 03 bao cao su đều nhãn hiệu Mivoro chưa sử dụng, 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Mivoro và 01 bao cao su đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Các vấn đề khác:

Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe máy điện biển số 98MĐ5 - 080.71 cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Giang; trả lại cho Kiều Thị Lành 01 điện thoại OPPO, mầu đen, số IMEI 1: 863557050333017, IMEI 2: 863557050333009 và số tiền 700.000 đồng; trả lại cho Hoàng Thị Đạ 01 điện thoại Iphone có số IMEI: 353815081447421; trả lại Nguyễn Văn Yên 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirus biển số 98M1 - 143.20, HĐXX xét thấy các tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữ u là đú ng nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t.

Đối với Lương Tuấn Anh; Nguyễn Văn Yên và Hoàng Thị Đạ; Kiều Thị Lành thực hiện hành vi mua dâm, bán dâm, Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi mua dâm, bán dâm theo quy định của pháp luật; Đối với ông Trần Hữu Phi là chủ nhà nghỉ Sao Mai để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm tại nhà nghỉ của mình, Cơ quan điều tra chuyển toàn bộ hồ sơ có liên quan đến đội Quản lý hành chính Công an huyện Lạng Giang để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật; Đối với Nguyễ n Thị Giang không biết việc Thúy môi giới cho Đạ và Lành bán dâm cho khách, do vậ y không có căn cứ để xử lý đố i vớ i Giang. Hội đồng xét xử xét thấy đúng quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điể m đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điề u 65, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung;

Căn cứ Điều 106, các Điều 135, 136, 292, 293, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 3, Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 03 (ba) năm tù về tội “Môi giớ i mạ i dâm” nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/02/2023).

Miễ n hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i vớ i bị cáo.

Giao bị cáo Vũ Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Dương Đứ c , huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước các tài sản gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO có số IMEI 867816031756613 đượ c đự ng trong 01 (mộ t) phong bì niêm phong có chữ ghi “Điệ n thoạ i củ a Vũ Thị T”, có chữ ký cùng họ tên của Nguyễn Xuân Đạ i, Vũ Thị T, đó ng dấ u củ a Cơ quan CSĐT - Công an huyệ n Lạ ng Giang và số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) đượ c đự ng trong 01 (mộ t) phong bì thư mà u trắ ng đượ c dá n kí n niêm phong ghi chữ “Tiề n thu tạ i nhà chị Vũ Thị T”, có chữ ký cùng họ và tên của Nguyễn Xuân Đại , Phùng Đức Ninh, Vũ Văn Đông, Vũ Văn Tuấn , Vũ Thị T, đượ c đó ng dấ u củ a Công an xã Dương Đứ c , huyệ n Lạ ng Giang (Bên trong là số tiề n 1.450.000đ (mộ t triệ u bố n trăm năm mươi nghìn đồng);

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 03 (ba) bao cao su đều nhãn hiệu Mivoro chưa sử dụng, 01 (mộ t) vỏ bao cao su nhãn hiệu Mivoro và 01 (mộ t) bao cao su đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo Vũ Thị T: 01 (mộ t) Căn cước công dân số 024172013898 và số tiề n 650.000đ (sáu trăm năm mươi nghìn đồng) đượ c đự ng trong 01 (mộ t) phong bì thư mà u trắ ng đượ c dá n kí n niêm phong ghi chữ “Tiề n thu tạ i nhà chị Vũ Thị T”, có chữ ký cùng họ và tên của Nguyễn Xuân Đ ại, Phùng Đức Ninh , Vũ Văn Đông , Vũ Văn Tuấn , Vũ Thị T, đượ c đó ng dấ u củ a Công an xã Dương Đứ c , huyệ n Lạ ng Giang (Bên trong là số tiề n 1.450.000đ (mộ t triệ u bố n trăm năm mươi nghì n đồ ng ) nhưng tạm giữ số tiề n để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bả n về việ c giao nhậ n vậ t chứ ng số 40 ngày 30/01/2023 và biên bả n về việ c giao nhậ n vậ t chứ ng số 46 ngày 31/01/2023 giữ a Công an huyệ n Lạ ng Giang và Chi cụ c THADS huyệ n Lạ ng Giang).

3. Án phí: Bị cáo Vũ Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyề n khá ng cá o : Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

- Sở Tư phá p tỉ nh Bắ c Giang;

- VKSND huyện Lạng Giang;

- Công an huyện Lạng Giang;

- Chi cục THADS huyện Lạng Giang;

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng khác;

- Lưu HS vụ á n, VP.

Vũ Thị Thiêm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Quang Vinh + Chu Quố c Đạ t

Vũ Thị Thiêm

Cỡ chữ