- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 56 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K-TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HS- ST Ngày: 21/03/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thanh Thơm và Trần Thị Lệ Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh, thư ký Tòa án nhân dân huyện K,tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 13/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 08/3/2023 đối với bị cáo:
Đỗ Văn Q; Giới tính: nam; sinh năm: 1995; Nơi ĐKHKTT và cư trú: xóm 15, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.
Bố đẻ: Không xác định; Mẹ đẻ: Đỗ Thị H, sinh năm 1963; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có.
Tiền án:
- Bản án số 47/2015/HSST ngày 31/12/2015 bị Toà án nhân dân huyện K xử phạt 9 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 20/7/2016 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
- Bản án số 63/2020/HS- ST gày 22/10/2020 bị Toà án nhân dân huyện K xử phạt 22 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 29/5/2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
- Bản án số 133/2022/ HS-ST ngày 25/11/2022 Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 27 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Tiền sự:
- Ngày 13/3/2014 bị Công an xã Đ ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.000.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa thi hành.
- Ngày 29/6/2020, bị Toà án nhân dân huyện K ra Quyết định số 14 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, chưa thi hành.
Lịch sử bản thân:
- Ngày 06/7/2017, bị Toà án nhân dân huyện K ra Quyết định số 17 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.
Bị cáo Đỗ Văn Q bị tạm giữ ngày 02/10/2022 chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 83/LTG- CQĐT ngày 05/10/2022 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Chị Hoàng Thị O, sinh năm 1980, trú tại xóm 15, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Tại phiên tòa vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ lên quan: Nguyễn Tiến D, sinh năm 1979, trú tại xóm 3, xã K, huyện K. Tại phiên tòa vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn Q là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng “tái phạm” đến nay chưa được xoá án tích. Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 27/9/2022, Q đi bộ từ nhà ra đường trục xã Đ, khi đi ngang qua nhà chị Hoàng Thị O, sinh năm 1980, trú tại xóm 15, xã Đ, Q phát hiện cổng mở, không thấy người ở nhà, trong sân dựng 01 xe máy điện nhãn hiệu YADEA- XMEN màu đỏ đen nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. Q đi vào trong sân nhà chị O, lúc này thấy chìa khoá điện đang cắm ở ổ khoá, Q liền ngồi lên xe và dùng hai chân đẩy lùi xe ra ngoài cổng rồi mở khoá điện điều khiển đi về hướng Nhà văn hoá xóm 15, xã Đ, sau đó đi đến nhà Nguyễn Tiến D, sinh năm 1979, trú tại xóm 3, xã K, huyện K. Tại đây, Q hỏi và được anh D cho vay số tiền 1.000.000đ đồng thời Q gửi chiếc xe máy điện ở nhà anh D và hẹn mấy hôm nữa Q quay lại trả tiền rồi lấy xe.
Sau khi tài sản bị trộm cắp, chị O trình báo Công an xã Đ, khi được triệu tập làm việc Q đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp của mình. Cơ quan công an thu giữ chiếc xe máy điện tại nhà Nguyễn Tiến D; thu giữ tại nhà chị O 02 video liên quan đến vụ việc.
Tại bản kết luận định giá số 29/KLĐG ngày 31/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện K kết luận giá trị còn lại của chiếc xe máy điện nhãn hiệu YADEA-XMEN màu đỏ đen là 5.067.000đ.
Tại bản kết luận giám định số 78/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình: Đối với 02 video được gửi giám định không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp video lưu trữ.
Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại chiếc xe máy điện nhãn hiệu YADEA-XMEN màu đỏ đen cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị O. Chị Hoàng Thị O đã nhận được tài sản nêu trên không có ý kiến hay đề nghị gì thêm. Anh Nguyễn Tiến D không có yêu cầu đề nghị Q phải trả số tiền 1.000.000đ đã vay nên vấn đề dân sự không được đặt ra trong vụ án này.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 10/2/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Đỗ Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung cáo trạng và đề nghị HĐXX:
-Tuyên bố Đỗ Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 BLHS.
+ Xử phạt bị cáo từ 27 tháng đến 30 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 27 tháng tù tại bản án 133/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 54 đến 57 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 02/10/2022
- Căn cứ Điều 47 BLHS 2015; Điều 106, 136 BLTTHS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14:
+ Truy thu từ bị cáo 1.000.000đ sung ngân sách nhà nước
+ Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã được Hội đồng xét xử tóm tắt nêu trên, không có ý kiến bào chữa, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn Q khai nhận hành vi của mình thực hiện như tóm tắt nội dung vụ án của Tòa án; Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; còn phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét công khai tại phiên tòa hôm nay như bản kết luận định giá số 29/KLĐG ngày 31/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện K kết luận giá trị còn lại của chiếc xe máy điện nhãn hiệu YADEA-XMEN màu đỏ đen là 5.067.000đ.
Từ những chứng cứ đó, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc trông coi tài sản của chủ sở hữu, khoảng 11 giờ 20 phút ngày 27/9/2022, tại xóm 15, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình, Đỗ Văn Q là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích có hành vi lén lút trộm cắp chiếc xe máy điện nhãn hiệu YADEA-XMEN màu đỏ đen của chị Hoàng Thị O trị giá 5.067.000đ. Bị cáo Đỗ Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
“Điều 173. Tội Trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:….
g) Tái phạm nguy hiểm.”
Như vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Đỗ Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hình phạt đối với bị cáo
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi đó của bị cáo cần được xử lý nghiêm.
Khi lượng hình phạt xét thấy: Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, nhân thâncủa bị cáo HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, để giáo dục cải tạo bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo đang chấp hành hình phạt 27 tháng tù tại bản án 133/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Do đó cần áp dụng Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt tù cho cả hai bản án
Đối với Nguyễn Tiến D là người cho Q cầm cố chiếc xe máy điện để vay số tiền 1.000.000đ Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định anh D không có thoả thuận bàn bạc trước với Q và cũng không biết chiếc xe máy điện là do Q trộm cắp mà có do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với D.
Về trách nhiệm dân sự: chị Hoàng Thị O đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu, đề nghị gì; nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc chiếc xe máy điện nhãn hiệu YADEA-XMEN màu đỏ đen mà bị cáo trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại; việc trả lại tài sản này của Công an huyện K là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo cầm cố chiếc xe máy điện trộm cắp được cho anh D để vay , nay anh Q không yêu cầu bị cáo phải trả lại, số tiền này do bị cáo cầm cố tài sản trộm cắp mà có do đó cần truy thu sung ngân sách nhà nước.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện K; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 47 BLHS. Điều 106, 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Q 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù tại bản án số 133/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 54 ( năm mươi tư) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 02/10/2022.
3. Xử lý vật chứng: Truy thu từ bị cáo số tiền 1.000.000đ sung ngân sách nhà nước.
4. Buộc bị cáo Đỗ Văn Q phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận dược bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện K; - Cơ quan Điều tra CA huyện K; - Cơ quan THA hình sự CA huyện K; - Chi cục THA dân sự huyện K; - Bị cáo; Bị hại ; - Lưu: HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thế Anh |