vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm i, s ,khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Văn G 12 (Mười hai ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 ( Hai tư ) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn G trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm i, s ,khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15 /2023/HS-ST
Ngày 24 tháng 2 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Giang.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Toản

Bà Nguyễn Thị Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 2 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 2 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11 /2023 / QĐXXST – HS ngáy 13 / 02 /2023 đối với bị cáo:

Ngô Văn G, sinh năm 1985 tại HN; Nơi cư trú: Thôn 06, TV, xã NC , huyện Lý Nhân , tỉnh HN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn T và con bà Nguyễn Thị D; Vợ: Cao Thị H, sinh năm 1995; Con: 01 con: Ngô Thị Thùy T (sinh năm 2014); Tiền sự, tiền án: không. Bị can bị tạm giữ, từ ngày 18/11/2022 đến ngày 26/11/2022 bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1. Ông Nguyễn Viết B, sinh năm 1967

2. Bà Ngô Thị O, sinh năm 1968

Cùng trú quán Thôn MK, xã LP, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 18/11/2022, Ngô Văn G đi bộ qua quán phở “Oanh Oanh” của gia đình ông Nguyễn VB (Sinh năm: 1967, Nơi cư trú: Thôn MK, xã La Phù, huyện Hoài Đức, TP, Hà Nội) ở thôn ĐN, xã Đông La, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 30N3-6871 của ông B dựng trên vỉa hè song song với tường bao của Trường THCS xã Đông La, đầu xe hướng phía đê Tả Đáy (đối diện quán của ông B). Lúc này, G nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, G quan sát xung quanh không thấy ai trông giữ nên đi đến chỗ dựng chiếc xe mô tô trên. Do thấy xe mô tô biển số: 30N3-6871 không khóa cổ, không khóa càng nên G dùng hai tay dắt chiếc xe mô tô đi bộ theo hướng ra đê Tả Đáy. Cùng lúc này, bà Ngô TO (Sinh năm 1968, là vợ ông B) đang ở trong quán nhìn thấy liền hô: “Có thằng trộm xe” và gọi ông B. Thấy vậy, G dắt xe mô tô trên chạy bộ được khoảng 30 mét thì bị vợ chồng ông B và ông Trịnh Đắc G (Sinh năm 1972, Nơi cư trú: Thôn ĐN, xã Đông La, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội) đuổi kịp và giữ lại, sau đó đưa đến Công an xã Đông La trình báo.

Vật chứng:

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM màu nâu, biển số: 30N3-6871, số khung: RLHHA0803AY063360, số máy: HA08E-1363394; xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 (một) Căn cước công dân mang tên Ngô Văn G.

Ngày 18/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức ra Yêu cầu định giá tài sản số 174 gửi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoài Đức đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM màu nâu, biển số 30N3-6871. (Bút lục số 31)

Ngày 23/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoài Đức ra Kết luận định giá tài sản số 547, kết luận:

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM màu nâu, biển số: 30N3-6871, số khung: RLHHA0803AY063360, số máy: HA08E-1363394, xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 12/3/2011 có giá 14.333.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng)

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển số 30N3-6871, số khung: RLHHA0803AY063360, số máy: HA08E-1363394 (xe cũ đã qua sử dụng): Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hoài Đức đã tra cứu chủ sở hữu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và tra cứu xe máy vật chứng, kết quả: Không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng và chủ sở hữu là ông Tạ Công T (Sinh năm1970, NCT: thôn ĐN, xã Đông La, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội). Ông T khai: năm 2018, ông T bán xe mô tô trên cho ông Nguyễn VB, không có giấy tờ mua bán và ông T đã đưa đăng ký xe cho ông B.

Ngày 05/12/2022, ông Nguyễn VB có Đơn xin lại xe mô tô nêu trên. Ngày 07/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức ra Quyết định xử lý vật chứng đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển số: 30N3-6871, số khung: RLHHA0803AY063360, số máy: HA08E-1363394 (xe cũ đã qua sử dụng) bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu là ông Nguyễn VB và trả Ngô Văn G 01 (một) Căn cước công dân mang tên Ngô Văn G.

Về dân sự: Ông Nguyễn VB không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức, bị can Ngô Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

* Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSHĐ ngày 07/2/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Ngô Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

* Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

+ Tuyên bố bị cáo Ngô Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Xử phạt bị cáo Ngô Văn G từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách là 24 thàng đến 30 tháng.

+ Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định do vậy đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

+ Về bồi thường dân sự: Ông Nguyễn VB đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên khoảng 10 giờ ngày 18/11/2022 tại xóm 2, thôn Đồng Nhân, xã Đông La, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Ngô Văn G đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM màu nâu, biển số: 30N3-6871 của ông Nguyễn VB, trị giá tài sản là 14.333.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo là cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, được thực hiện với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội; bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ngô Văn G cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an và gây hoang mang cho người dân tại địa phương. Tòa án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải , phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại Điểm i và s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy : bị cáo Ngô Văn G lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i,s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn G từ 12. tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách từ 24 thàng đến 30 tháng là có căn cứ.

[ 7] Về hình phạt bổ xung:

Bị cáo Ngô Văn G không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự :

Hội đồng xét xử ghi nhận ông Nguyễn VB đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự đối với bị cáo .

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm i, s ,khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn G 12 (Mười hai ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 ( Hai tư ) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Ngô Văn G cho Ủy ban nhân dân xã NC, huyện Lý Nhân, tỉnh HN giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về trách nhiệm dân sự : Căn cứ Điều 584,585,589 Bộ luật dân sự

Ghi nhận ông Nguyễn VB đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về bồi thường dân sự đối với bị cáo .

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Buộc bị cáo Ngô Văn G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng các khoản 1, 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai .

Cỡ chữ